BẢO ANH THẦN THUẬT - ÁN MA KINH

BẢO ANH THẦN THUẬT - ÁN MA KINH

Tải về trọn bộ ở đây 

Yếu huyệt đồ

1- Ấn Đường: Trị kinh phong, bất ngữ nói chung.

2- Giáp Xa: Trị kinh bất ngữ.

3- Thiếu Hải: Trị kinh phong.

4- Thiếu Thương.

5- Tử Liêm: Trẻ em kinh duỗi, bấm day.

6- Thừa sơn: Trị khí hổng (Thở rống lên), kiêm phát nóng.

7- Tam Âm Giao: Trị kinh phong.

8- Giải Khê: Trị trẻ em nội điếu, nắn bấm ở đó.

9- Dũng Tuyền: Trị kinh, thổ tả. Bấm day. Trai thì nắn xoay trái chỉ thổ, nắn xoay phải chỉ tả (Gái thì ngược lại)








YẾU HUYỆT ĐỒ

Phép lấy huyệt ghi không đủ, xem ở quyển châm thì rất rõ ràng.

Bấm ở trẻ nhỏ thì không có quan hệ gì tới thất tình, không ở can kinh thi ở Tỳ kinh, không ở Tỳ kinh tất ở Can kinh, là bệnh tật thường ở 2 tạng Can, Tỳ. Đó là yếu quyết vậy.

Cấp kinh phong thuộc Can mộc, chứng phong tà có dư trị thi nên dùng các vị Thanh, Lương, Khô, hàn thổ tả khí hóa đàm. Chứng thấy là nghe tiếng gỗ mà sợ, hoặc cầm thứ hình ngựa, lừa kêu liền mặt xanh miệng cắn chặt, hoặc nghe ngựa hí thì khóc mà cứng lặng người. Qua cơn đó thì sắc mặt đỏ do khí nhiệt dẫn vào trong miệng mũi, phân ỉa ra màu vàng đỏ, tỉnh táo, không ngủ được. Cái sốt rất cao thì sinh đờm, đờm tỉnh thì sinh phong, cũng có ngẫu nhiên do sợ mà sinh ra.

Trong thì uống trấn kinh thanh đàm thang, ngoài thì dùng phép bấm, xoa, ấn huyệt, không lý gì không khỏi.

Đến như mãn kinh phong, thuộc chứng Tỳ thổ trung khí bất túc, chữa thì nên hòa trung, dùng thanh can ôn bổ trung tình trạng ấy thường bởi ăn uống không điều độ, tổn thương Tỳ, Vị, đã ỉa chảy kéo dài, trung khí rất hư, mà phát thành giật, phát thì không ngừng đứt, làm mình lạnh, măt vàng, không khát, thở hơi lạnh trong, miệng mím, phân và nước tiêu trong trắng, ngủ mệt mở mắt, mắt nhìn ngược, tay chân co dúm, gân mạch co quắp, cái Tỳ hư thì sinh phong. Phong thịnh thì gân cấp, tục gọi là THIÊN ĐIÊU PHONG, chính là chứng đó.

Chữa là nên bổ trung là chính, nhưng lấy phép bấm, xoa, ấn day huyệt, vận dụng tỉ mỉ có thể giữ được cả mười.

Có khi thổ tả chữa thành mãn kinh, cấp dùng bài thuốc kiện Tỳ dường Vị, ngoài thì dùng thủ pháp ấn bấm đối chứng với kinh huyệt, mạch lạc điều hòa, kế đó không gây đến thành mạn kinh phong được. Nếu như có chứng nào đó, huyệt pháp nói rõ ở sau, gặp thì chọn ở đó.




Thủ pháp ca

-Tâm kinh có nhiệt làm đàm mê.

Thiên Hà Thủy làm cho trẩy tràn đi.

-Can kinh có bệnh trẻ em thường khóc nhè.

Đấy ở Tỳ Thổ bệnh sẽ trừ.

-Tỳ kinh có bệnh ăn không tiến.

Đây ở Tỳ Thổ hiệu rất ứng.

-Phế kinh bị gió ho hắng nhiều.

Thì ấn xoa lâu ở Phế kinh.

-Thận kinh có bệnh tiểu tiện tắc.

Đầy ở Thận Thủy thì cứu được.

-Tiểu Trường có bệnh khí lại công.

Ấn day Bản Môn, Hoành Môn sẽ thông.

-Dùng Tâm ghi huyệt huyệt Tinh Ninh đó.

Gặp phải chứng nguy nhanh như gió.

-Đảm kinh có bệnh làm miệng đắng.

Nhớ ngay phép diệu đẩy Tỳ Thổ.

-Đại Trường có bệnh làm ỉa nhiều.

Xoa lâu Tỳ Thổ và Đại Trường.

-Bàng quang có bệnh làm chứng lậu.

Thận Thủy, Bát Quái, vận ở Thiên Hà.

-Vị kinh có bệnh nôn mửa nhiều.

Đẩy ở Tỳ Thổ, Phế kinh sẽ điều hòa.

-Tam Tiêu có bệnh nóng lạnh như ma.

Thiên Hà quá Thủy không sợ nhầm lẫn.

-Mệnh Môn có bệnh thì nguyên khí hao.

Phải đẩy Bát Quái, ở Tỳ Thổ và Đại Trường.

-Tiên sư dạy tôi châm khẩu quyết.

Tôi nguyện đem thêm mạng thọ cho trẻ em !

Ngũ tạng, Lục phủ là gốc bị bệnh.

Cần theo thủ pháp đẩy thì khỏi.

Số lần rõ ràng không thổ loạn.

-Phế kinh, có bệnh, bấm bấm cạnh Phế kinh.

-Tâm kinh có bệnh, bấm Thiên Hà Thủy.

-Ỉa chảy, bấm Đại Trường, đẩy ở Tam Quan.

-Mắt mờ cần bấm Thận Thủy thâm.



Lại có Hoành Văn, số là 10 lần.

Kiêm Thiên Hà nữa cộng tốt trọn vẹn.

-Đau đầu đẩy ở Tam Quan.

Lại bấm Hoành Văn và Thiên Hà.

Lại nhớ day ở Thiên Tam mấy lần.

Công hiệu chỉ trong thời gian ngắn.

-Đau răng cần day huyệt Thận Thủy.

Đẩy ở Giáp Xa tự nhiên ca.

-Thương phong tắc mũi huyệt Thiên Hà.

Đẩy tổng Can, đẩy ở Tỳ Thổ 700 lần.

-Tai ù thường do Thận Thủy hao.

Bấm ở huyệt Thận Thủy, Thiên Hà Thủy.

Kiêm là 900 lần ở Phong Trì.

Lại bấm cạnh dưới của Dái Tai.

-Ho hắng đều đều là bị phong hàn.

Trước cần lấy hãn Xuất Điện ở cánh tay.

Thứ lấy Phế kinh, trong Hoành Văn.

Ở chỗ Cung Càn cần vận thuận vòng tròn.

-Tâm kinh có nhiệt, vận Thiên Hà.

-Lục phủ có nhiệt đẩy Bản Khoa (Chổ lục phủ)

-Ăn uống không tiến đẩy Tỳ Thổ.

-Nước tiểu ngắn, ít bấm nhiều ở Thận.

-Đại Trường làm ỉa chảy phải vận đi.

Đại Trường, Tỳ thổ bệnh sẽ trừ.

Thứ lấy Thiên Môn vào Hổ Khẩu.

Day rốn, Quy Vĩ 700 cái.


-Bụng đau, thường bới khí hàn công.

Thường đau Tam Quan, vận Hoành Văn.

Giữa rốn thường day chừng mười lượt.

Thiên Môn, Hồ Khẩu cùng (day) mươi lần.

-Bệnh đau mắt hỏa day Tam Quan.

Làm 120 lần liên.

Lục phủ thò lùi 400 lượt.

Lại đẩy Thận Thủy tròn 400 (lần).

Kiêm lấy Thiên Hà 500 luôn.

Cuối cùng bổ Tỳ Thổ 100 là hết.

Khẩu truyền bút ghi quyết đầy tay.

Giúp cho nhân gian dùng tham Khảo.




Quan hình sát sắc pháp

(Phép xem xét hình sắc)

Phàm xem bệnh trẻ nhỏ, trước là xem hình sắc, sau mới xem mạch. Cái sắc khí của bộ mặt nhìn chung 5 chỗ đều xanh là cái kinh không tan, muốn phát thành chứng phong. Cả 5 chỗ đều đỏ làm Đàm tích hỏa thịnh, hồi hộp, sợ hãi không yên, dễ ỉa, dễ mửa, 5 chỗ đều đen là tạng phủ muốn tuyệt bệnh nguy!

Mặt xanh, mắt xanh là bệnh Can.

Mặt đỏ là bệnh Tâm.

Mặt vàng là bệnh Tỳ.

Mặt trắng là bệnh Phế.

Mặt đen là bệnh Thận.

Trước hết là phân tích bệnh ở 5 tạng có cái nào là chủ, là thứ, biểu lý, hư thực.

- Bệnh Can chủ phong: Thực thì mắt trợn ngược, gào to, cổ gáy cứng và buồn bằn. Hư thì cắn răng, thở mạch, hơi nóng là do ngoại sinh, hơi ấm là do nội sinh.

-Bệnh Tâm chủ kinh: Thực thì nên kêu khóc, phát sốt, uống nước mà run rẩy chân tay đong đưa, hư thì khó nằm, sợ hãi không yên.

-Bệnh Tỳ chủ khốn: Thực thì khỏ ngủ, mình sốt, không nghĩ đến ăn, bú. Hư thì ỉa, nửa sinh phong.

-Bệnh Phế chủ suyễn: Thực thì suyễn loạn, suyễn thúc, có uống hoặc không uống nước. Hư thì nghẹn khí, dãi, ra khí ngắn, thở suyễn.

-Bệnh thận chủ hư: Không có thực. Mắt không trong sáng, bị mờ chân tay xương xẩu nặng nề, dậu chẩn, chìm đen.

Các chứng kể trên còn phải phân biệt tình huống hư thực. Giá như bệnh Phế lại thấy chứng Can, răng cắn chặt mà hay hà hơi ra là dễ chừa, vì Can hư không thể thắng Phế được.

Nếu mà mắt trợn ngược gào khóc to, gáy cứng, vật vã thì khó chữa. Cái bệnh Phế lâu ngày thì hư lạnh, can cường thực mà thắng phó. Xem bệnh hư, thực: Hư thì bổ ở mẹ, thực thì tả ở con.



Luận sắc ca

(Bài ca bàn về sắc)

-Trong mắt đỏ là tâm thực nhiệt.

-Màu hồng nhạt là hư chi thoát.

-Xanh là gan nhiệt, màu nhạt ở nông là hư.

-Vàng là Tỳ nhiệt thoát đi đâu.

- Trắng mà đục là Phế nhiệt xâu tới.

-Mắt không sáng sủa quyết là Thận hư.

-Trẻ em nhân trung màu xanh, phần nhiều nhân quả là đứa trẻ sống ; nếu màu nhân trung là đó sẫm, đúng là tích thực làm bĩ. Nhân Trung hiện ra sắc vàng, là tích sữa chi nuôi dạ dày mà thành.

-Thấy góc Long (bên trái) nổ gân xanh (Tĩnh mạch), đêu do 4 chân có kinh.

-Nếu thấy góc Hổ (bên phải) màu đen, hình như nước vòng vèo, màu đỏ trên ấn đường, đó là người sẽ lên cơn kinh.

-Giữa 2 mày mà màu đỏ, đen, đỏ sẫm thi cần cấp cứu không chần chừ. Đỏ tươi dưới lông mày rõ ràng chết không sống được.

Nhận cân pháp ca

(Bài ca phép nhận gân và chứng bệnh)

- Thóp thở gân chữ bát (八) là rất bình thường.

- Ở ngón tay gân suất Tam Quan: Mệnh tất vong.

+ Mới vào sơ quan là bệnh có thể tiến thoái.

+ Cùng liền thứ bộ cũng hại đâu đó, gân đó chỉ do cách thực gân xanh đúng bị thương Thủy, Phong, gân liền ngón cái là âm chướng gân nếu sinh hóa định chẳng lành (Trong đó có vạ Tủy cân).

+ Gân như cái kim đẻ lệch: Chủ thổ tả (Cân đới Huyền Châm).

+ Cân ngoái văn mệnh khó dương. Tứ chi: Đàm nhiều. Bụng trướng, nôn mửa là do ăn sữa mà bị thương.

+ Miệng cá tiếng quạ kiêm khí cấp.

Chó cắn hại người tự kinh trướng.

Mọi chứng phong kinh nên đẩy sớm.

Nếu như đẩy chậm, mạng phải mất.

Thần tiên lưu lại phép rất kỳ.

Hậu học nên hiệu cho mạnh nhất.

Phàm xem cái gân trên cầu Mũi.

Thẳng tới thiên tâm, sợ nhất đời!



Khi mới sinh, ở Nhất Quan có Trắng, đề phòng cẩn thận 3 buổi chiều, Ở Nhị Quan có trắng, đề phòng cẩn thận trong 5 ngày, ở Tam Quan có trắng đê phòng ngoài 1 năm.

Phàm gân ở trên cung Khảm là chết ngay, ở dưới cung Khảm là 3 năm. Nhưng lại còn gân theo bản sắc 4 mùa, tuy có nhưng vô hại: Xanh là Phong, Trắng là Thủy, Hồng là Nhiệt, Đỏ tươi là sữa ăn gây thương.

Phàm cấp mãn kinh muốn nguy, không nói được, trước cứu Tam Âm Giao, nhì là Nê Hoàn, ba là Giáp Xa, bốn là Thiếu Thương, năm là Thiếu Hải. Xem bệnh trạng to, nhỏ, hoặc dùng 3 mồi, 5 mồi, 1 mồi, có khi đến 77 mồi, phân Nam, Nữ, tả hữu có 10 khỏi 10, như cấp tính, Thiên điếu kinh. Bấm gân xanh ở trên tay rèn (Đoàn: ) trên và dưới rốn, bấm ở 2 tai, lại

bam ở huyệt Tổng Tâm.

- Nội điếu kinh, bấm Thiên Tân huyệt.

- Nam kinh bất tỉnh nhân sự cũng bấm huyệt Tổng Tâm.

- Cấp kinh như chết bấm gân 2 tay.

- Mắt nhắm tả Đồng Tử Liêu.

- Hàm răng cứng, tả Giáp Xa.

- Miệng mắt cùng nhắm, tả Nhinh Hương.

Số phép kể trên lấy ngón tay thay kim là phép thần vậy. Cũng phải chia bổ tả.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét