Sơ cứu vết thương chiến tranh


Sơ cứu vết thương chiến tranh (P1)

Tài liệu khoa học dành cho cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang Liên bang Xô viết

Đại tá giáo sư, bác sỹ quân y Rusanov. S.A

Bộ quốc phòng Liên bang Xô viết

Moscow-1957

ВОЕННОЕ ИЗДАТЕЛЬСТВО
МИНИСТЕРСТВА ОБОРОНЫ СОЮЗА ССР
Москва-1957

NỘI DUNG

Chương 1. Vết thương và sơ cứu vết thương

1- Vết thương mở và sự nhiễm khuẩn vết thương
2- Chảy máu và cách dừng chảy máu
3- Đau đớn, gẫy xương và nẹp

Chương 2. Bỏng và sơ cứu vết thương bỏng

Chương 3. Chấn thương do sức ép, áp lực vùi lấp thời gian dài và sơ cứu khi bị sức ép


Chương 1

VẾT THƯƠNG VÀ SƠ CỨU VẾT THƯƠNG

Nếu cơ thể con người bị tấn công bởi một vật nhọn, da, bao bọc quanh cơ thể người sẽ bị xuyên thủng vàhình thành vết rách. Sự tổn thương đó phá hủy tính nguyên vẹn của da và được gọi là vết thương. Nếu vếtrách sâu, các mô thànhphần của cơ thể, như mỡ, cơ, xương cũng bị tổn thương và mất lớp da bao bọc, lộ rangoài. Vết thương như vậy được gọi là tổn thương hở (ngoại thương) để phân biệt với những tổn thương bêntrong (nội thương) khi lớp da bên ngoài vẫn còn nguyên vẹn. Da trên cơ thể người được kéo căng, phẳng, dođó, khi hình thành vết rách, rìa của vết thương sẽ co lại, làm cho vết thương mở rộng ra. Cùng với da là rấtnhiều các mao mạch máu nhỏ sẽ bị đứt. Máu sẽ từ mạch máu trào ra ngoài, gây hiện tượng chảy máu ngoài.
Đồng thời cùng với việc chảy máu ngoài là sự tổn thương các dây thần kinh cảm giác. Sự tổn thương cácdây thần kinh sẽ tạo cảm giác đau đớn.
Sự mở rộng rìa mép của vết thương, chảy máu và đau đớn là 3 tính chất đặc biệt quan trọng của vết thươngở bên ngoài da. (ngoại thương)
Những loại vũ khí nhọn, sắc- tương tự như dao, kiếm, lưỡi lê khi đâm chém xuyên vào cơ thể con người, sẽxuyên thủng da, đồng thời xuyên cắt các lớp mô của cơ thể, nằm sâu dưới da. Đó là những tổn thương xảyra do bị đâm xuyên, bị chém, bị cắt hoặc bị xé gây ra bởi các vật có mũi, cạnh sắc nhọn
Tính chất đặc biệt của vết thương chiến tranh là những vết thương bị gây lên bởi đạn, mảnh đạn pháo, bom,mìn. Những vết thương đó được gọi vết thương do hỏa khí. Đạn hay mảnh đạn, sát thương cơ thể chiến sỹthông thương có khả năng xuyên thấu qua tay, chân hoặc thân thể rồi văng ra ngoài. Những vết thương đóthường xuyên thấu, có vết đầu vào và phá đầu ra. Được gọi là vết thương xuyên thấu. Nếu đạn hoặc mảnhđạn đọng lại ở trong thân, vết thương được gọi là vết thương mù do đầu đạn hoặc mảnh đạn lặn vào thân cơthể. Đương nhiên vết thương mù là vết thương chỉ có một đầu vào.
Đầu đạn hoặc mảnh, hoặc có thể là vũ khí lạnh, có thể xuyên qua hộp sọ, vùng ngực hoặc bụng. Khi đó sẽsẩy ra tổn thương các cơ quan nội tạng bên trong cơ thể như não bộ, tim, hệ thống hô hấp, tuần hoàn và tiêuhóa. Xuyên phá vào các chi, đạn hoặc mảnh đạn có thể xé cơ, gẫy xương, cắt đứt các động mạch vàtĩnhmạch chủ. Những vết thương xuyên thấu như vậy thường đe dọa khả năng gây chết người hoặc tàn phếnặng. Tổn thương của não bộ hoặc hệ tuần hoàn vùng tim có thể có nguy cơ gây chết người hoặc những tổnthất nghiêm trọng, nếu người bị thương không được sơ cấp cứu kịp thời.
Mỗi người chiến sỹ cần phải biết chính xác và thành thạo khả năng sơ cấp cứu vết thương cho đồng đội củamình, cũng như chính bản thân mình trong trường hợp bị thương. Do đó, người chiến sỹ cần biết: sự nguyhiển ẩn chứa trong mỗi vết thương chiến trường. Nguy hiểm của vết thương thể hiện ở 3 biểu hiện:

Diện tích miệng vết thương, chảy máu và sự đau đớn.

Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ từng biểu hiện và phương thức sơ cứu.

Diện tích mở vết thương và nhiễm khuẩn vết thương.

Diện tích mở miệng vết thương, sự nguy hiểm nằm trong khả năng nhiễm khuẩn hay, nói theo cách nói củabác sỹ, vết thương bị nhiễm trùng. Thế nào là vết thương bị nhiễm trùng?







Vi sinh vật quanh ta





Trong môi trường xung quanh chúng ta tồn tại một số lượng vô cùng lớn các loại sinh vật vô cũng nhỏ bé,hoàn toàn không nhìn thấy được, để phát hiện ra chúng cần có các loại kính hiển vi có khả năng phóng đại từhàng trăm đến hàng vạn lần. Những sinh vật nhỏ bé ấy có thể gọi là vi khuẩn hoặc vi trùng. Ngôn ngữ khácđược gọi là vi sinh vật. Vi khuẩn sống ở khắp mọi nơi, trên mặt đất, mặt nước, cây cối, không khí và tồn tạitrên và trong cơ thể con người và các sinh vật khác.
Theo vẻ bên ngoài, vi khuẩn, siêu vi khuẩn rất đa dang, có chiều dài rất nhỏ, 1 micro mét có thể có tới hàngnghin loại vi khuẩn hoặc siêu vi khuẩn. Các vi khuẩn phát triển, sinh sôi nẩy nở theo phương thức chia tách,một tách thành hai và liên tục, tốc độ phân tách rất lớn, trong vòng 1 ngày từ một vi khuẩn có thể tạo lên hàngtrăm nghìn vi khuẩn khác. Trong những điều kiện không thuận lợi như bị làm lạnh, bị sấy khô hoặc đun nóng,một số lượng lớn vi khuẩn sẽ bị tiêu diệt, số còn lại co lại, ngừng hoạt động nhưng vẫn giữ nguyên khả năngsống và phát triển. Gặp điều kiện thuận lợi chúng sẽ hồi sinh và tiếp tục phát triển, các vi khuẩn còn có khảnăng biến đổi gien để thích ứng với môi trường sống. Chúng có khả năng sống rất dai, một số loại trong điềukiện nước đun sôi lâu cũng không tiêu diệt đượcchúng.
Các vi sinh vật có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tự nhiên, chúng tiêu thụ chất protein, tinh bột, đường … và hủy hoại tất các các thực vật và sinh vật đã không còn sự sống, các chất bẩn trong môi trườngtự nhiên, phân hủy chúng và tạo ra từ các chất nguyên sinh như Các bon, Ni tơ, Lưu huỳnh, Phốt pho .v..v..và thải chúng vào với tự nhiên để duy trì sự tuần hoàn của các loại sinh vật và thực vật trong môi trường tựnhiên.
Rất nhiều vi sinh vật có lợi cho cơ thể con người, một số lượng rất lớn các vi sinh vật đóng vai trò tạo dựngcác chất như tinh bột, đường, men … một số lượng khác phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người nhưsữa, thuốc lá v.v.. Một số lượng khác lại cung cấp các chất dùng để chữa bệnh như penicillin , streptomycin.v.. Giữa những loại vi sinh vật có lợi cho đời sống con người, cũng có rất nhiều các loại vi sinh vật rất độchại cho sức khỏe, có nhưng loài vi sinh vật thải ra các chất độc và là nguồn gốc của các loại bệnh, thâm nhậpvào cơ thể, chúng đầu độc các bộ phận cơ thể và gây ra các loại bệnh khác nhau.
Con người, trong điều kiện sống bình thường, ít khi bị các loại vi sinh vật gây hại xâm nhập. Các loại vikhuẩn có thể gây nhiễm trùng tồn tại dầy đặc quanh cơ thểvà trên cơ thể con người, nếu thân thể khôngđược sạch sẽ. Chúng không hề gây hại khi con người không bị tổn thương, da bảo vệ cơ thể không cho visinh vật gây hại thâm nhập. Nhưng chỉ cần lớp da bị tổn thương, thì vết thương sẽ dẫn đến nhiễm trùng. Cácvết thương nhiễm khuẩn sẽ bị mưng mủ, lở loét sưng tấy và vi khuẩn độc hại sẽ thâm nhập sâu vào cơ thể,khi đó sẽ gây nhiễm độc máu và nhiễm độc toàn bộ cơ thể.

Trong điều kiện chiến trường, người lính phải sống trong môi trường bẩn, độc hại và có rất nhiều các loại vi sinh vật nguy hiểm, gây nhiễm độc vết thương rất nhanh và dẫn đến khả năng nguy hiểm cho cơ thể. Vì vậy, khi bị thương, nhiệm vụ quan trong đầu tiên vẫn là chống nhiễm trùng vết thương. Nếu nhiệm vụ chống nhiễm khuẩn đạt được, là công việc nặng nề nhất đã hoàn thành trong bảo vệ người lính. Vết thương, nêu không là tổn thất ở tim, não bộ, các động mạch chủ hoặc các cơ quan quan trọng khác. Người lính có khả năng sống còn rất cao, nhưng sẽ rất khó khăn chống lại các loại vi khuẩn, khi chúng đã lọt vào cơ thể, mặc dù y tế chiến trường hiện đại có rất nhiều các loại thuốc chống được các loại vi khuẩn, nhưng còn rất lâu mới có thể chống lại tất cả các loại vi khuẩn trên chiến trường, đặc biệt là khả năng biến đổi gien của chúng. Vì vậy, nhiệm vụ người chiến sỹ là sơ cứu cho đồng đội hoặc bản thân khi bị thương là chống nhiễm khuẩn vết thương.
Hầu hết các vết thương, nếu không phải bị gây ra do vũ khí sinh học đều không bị nhiễm khuẩn ngay thời điểm bị thương, mà sau đó. Vết thương tiếp xúc với không khí, quần áo bẩn, bùn đất và do tay người va chạm vào. Do đó, băng bó khẩn cấp vết thương ngay sau khi bị thương là phương pháp duy nhất để bảo vệ vết thương khỏi bị nhiễm khuẩn, ngăn chặn mất máu và chống sốc cho đến khi người bị thương được đưa đến trạm quân y gần nhất.
Vết thương được bảo vệ khỏi nhiễm khuẩn bằng bông băng cứu thương, hoàn toàn được tiệt trùng. Việc băng bó vết thương tạm thời bằng vải, quần áo có thể ngăn được chảy máu, nhưng làm tăng khả năng nhiễm khuẩn vết thương. Các loại bông băng cứu thương thường được làm tiệt trùng bằng cách hấp ở nhiệt độ hơi nước đến 120oC và được chiếu xạ tia cựu tím để tiệt trùng và hoàn toàn không nhiễm khuẩn. Loại bông băng này được gọi là bông băng vô trùng. Bông băng vô trùng bảo vệ vết thương an toàn chống mọi sự xâm nhập của vi khuẩn. Mỗi người chiến sỹ được trang bị bông băng tiệt trùng dưới dạng gói bông băng cá nhân, dùng để sơ cứu khi bị thường. Bao gồm hai miếng gạc và hai cuộn băng gạc. Băng và gạc được đựng trong túi giấy chống ẩm để bảo quản. Người chiến sỹ cần phải thành thạo khả năng sử dụng các loại bông băng cứu thương để tự bảo vệ mình trong điều điện chiến trường.

Nguyên tắc băng bó vết thương.

Gạc băng vô trùng được coi là vô trùng khi chưa có tay người đụng vào. Khi tay đã đụng vào là đã bị nhiễm khuẩn, gói gạc băng vô trùng được thiết kế sao cho có thể đặt được miếng gạc lên vết thương mà không phải đặt tay vào mặt miếng gạc áp lên vết thương, Gạc có 2 miếng, 1 miếng gắn cố định vào đầu cuộn băng, miếng thứ 2 có thể di chuyển dọc theo cuộn băng, có thể sử dụng để bịt các vết thương xuyên thấu trên cơ thể. Nếu chỉ có một vết thương thì 2 miếng gạc được đặt chồng lên nhau. Miếng gạc cố định được giữ bằng mẩu băng được khâu liền với gạc và đặt lên vết thương, miếng gạc di động được di chuyển để đặt sang phía bên kia của vết thương xuyên thấu, nếu có, bằng cách cầm bên trên của miếng gạc và di chuyển dọc theo dây băng và kéo căng dây băng.



Băng bó cứu thương

I Băng bó

Nhóm vật chất băng bó cứu thương, được đặt lên cơ thể thương bệnh binh, người bị tai nạn để sơcứu che phủ vết thương, tạo lên một áp lực vừa đủ mạnh lên một phần cơ thể bị tổn thương. Bảo vệvết thương chống bị ảnh hưởng bởi nhiễm khuẩn hoặc ảnh hưởng môi trường.

II Phương pháp băng sơ cứu

Các phương pháp băng bó cứu thương bao gồm: Phương pháp băng bó chắc chắn, băng bó có áplực và băng bó bất động, thường là băng bó tạm thời và băng cố định lâu dài. Băng bó cố địnhthường được sử dụng trong trường hợp gẫy vỡ xương, khớp, có thể dùng thạnh cao, nhựa cứnghoặc các thanh nẹp khác nhau. Thông thường, băng cố định dài thường xảy ra trong những chấnthương, tổn thất nặng hoặc sau khi phấu thuật và thường được thực hiện bởi các cán bộ y tế, trongtrường hợp xảy ra trên chiến trường, người chiến sỹ có thể chủ động thực hiện để tránh gây tổnthương lớn hơn cho cơ thể nhưng cần hiểu biết và nắm chắc phương thức thực hiện. Để băng chắcchắn có thể sử dụng các dụng cụ gá cứng từ nhựa, gỗ và băng. Quân y đơn vị được trang bị thêmcác dụng cụ như nẹp gá cứng. Thường sử dụng băng thông thường, băng lưới và băng làm từ cácchất liệu đặc biệt. Băng bó có áp lực, garo hoặc tương tự, băng có chắc chắn là yêu cầu tối thiểu mỗingười chiến sỹ cần biết. Các loại bông băng sử dụng thường được trang bị là bông băng vô trùng,bông băng có thấm tẩm các hóa chất chống khuẩn, chống viêm nhiễm.

Băng bó, như đã nói trên, có 2 phần: Phần gạc bông hoặc tương tự đặt lên miệng vết thương để sơcứu và băng để giữ bông gạc cần thiết. Để giữa bông, gạc thường sử dụng băng vô trùng, băng dạnglưới và băng vải hình tam giác. Để giữa băng trên cơ thể người thường dùng kim găm, băng dínhmột hoặc 2 mặt hoặc đơn giản là các nút buộc của băng. Có rất nhiều phương pháp băng bó và thựchiện được nó cần phải trải qua huấn luyện chu đáo, do nếu không biết buộc, băng sẽ nhanh chóng bịrơi và gây ra chảy máu hoặc đau đớn. Trong điều kiện cho phép, các vết thương phải được tẩy trùngbằng cồn, iot hoặc nước muối đã đun sôi diệt khuẩn.

Người bị thương cần được nằm hoặc ngồi thuận tiện, không động đậy. Chiến sỹ cứu thương ngồihoặc nằm bên cạnh tùy theo điều kiện chiến trường hoặc hoàn cảnh để có thể nhìn thấy mặt thươngbinh trong quá trình sơ cứu. Phần cơ thể được băng bó cần bố trí sao cho thuận tiện nhất (chânthẳng, tay gập co lên hoặc co lại, hơi cách xa cơ thể) phần đầu của cuốn băng được cầm 1 tay, taykia cầm cả cuộn băng. Quấn băng xung quanh các chi, thân hoặc đầu thương binh theo chiều từ tráisang phải( theo chiều kim đồng hồ) (pic01). Lần lượt 2 vòng một quanh phần cơ thể đầu tiên, vòng nọđè lên vòng kia để giữ chặt băng và gạc, mỗi vòng tiếp theo đều phải giữ và kéo nhẹ bằng tay, quấnbăng từ phần nhỏ của cơ thể đến phần to hơn (Trên tay hoặc chân thường bắt đầu từ cổ tay hoặc cổchân, đến bàn chân hoặc lên thân người) các vòng quấn băng lần lượt vòng nọ chèn lên vòng kia ítnhất là ½ để giữ băng, 2 vòng cuối cùng được quấn đè lên nhau sau đó cắt băng dọc ( không xé) vàbuộc thắt nút kiểu rút.







Pic01



Băng phải bao bọc toàn bộ phần cơ thể bị thương để ngăn chặn khả năng nhiễm khuẩn của vếtthương, không gây thương tổn thêm và giữ được các loại thuốc đã tiêm bôi tác động lên vết thương.Băng bó không được đè chặt lên vết tổn thương, để tránh gây thêm đau đớn, khó khăn trong hô hấpvà tuần hoàn máu. Ngoài ra, băng bó trên cơ thể không được gây vướng víu, khi cần thiết có thểtháo bỏ dễ dàng mà không gây đau đớn. Nhìn từ phía bên ngoài, vết băng bó phải gọn gàng, thẩmmỹ. Trong mọi trường hợp, sau khi băng xong vết thương vẫn xuất hiện đau đớn hơn, và chảy máunhiều. Chiến sỹ quân y cần có biện pháp ngăn chặn và nhanh chóng chuyển lên tuyến trên để cấpcứu kịp thời. Nhưng vết thương ở vị trí nguy hiểm, phức tạp khi thay băng phải được thay ở trạmquân y cấp cao, có bác sỹ quân y để tránh trường hợp bị tổn thương mở rộng. Trong điều kiện phứctạp của chiến trường, thương binh cần giữ gìn chỗ băng bó cẩn thận, không để rơi, tuột băng. Cầnthiết có thể băng buộc bổ xung lên trên để giữ, tránh làm bẩn, có điều kiện có thể trùm lên chỗ băngvết thương bằng quần, áo sạch hoặc các thiết bị bảo vệ (găng hoặc mũ, ống tay áo hoặc ống quần. ).



Băng dính: Bao gồm có miếng băng dính và băng dính y tế.

Miếng băng dính — Là băng dính y tế thông thường, thường được dán lên vết thương nhỏ, vết tiểuphẫu sau khi mổ. Chiến sỹ quân y đặt miếng gạc lên trên vết thương và dán băng dính lên cơ thể đểgiữ. Thường sử dụng cho cổ , đầu hoặc trên thân, mặt.

Băng dính y tế - là băng dích mà mặt trong của nó đã được dán lớp băng y tế có tẩm thuốc chốngnhiễm khuẩn, hoặc là thuốc dán, phần dính được dán lên cơ thể. Băng dính y tế đôi khi còn được sửdụng để khép miệng vết thương, đặc biết khi vết thương trên cơ thể người. Dùng 1 tay giữ băng, taykia khép miệng vết thương và dán đầu kia miếng băng sang bên kia vết thương. Có thể dùng để giảmchảy máu vết thương. Không được quá sử dụng tính dính của băng mà đè nén mạnh lên cơ, gây đauđớn hoặc nghẽn mạch máu.

Băng vết thương bằng vải tam giác được sử dụng để giữ các băng gạc và được dùng để giữ cánhtay bị chấn thương. Các phương pháp sử dụng khăn để băng bó các vết thương được giới thiệu trênảnh.




Băng vải tam giác đỡ ngực (а), Cẳng chân (б), cánh tay (в).



Băng vải tam giác quấn bàn chân (а) và phần đùi (б).



Băng đặc chủng theo vùng: Băng đặc thù theo vùng tổn thương thường được sử dụng cho nhữngvùng tổn thương trên diện rộng như vết xước rộng hoặc vết bỏng rộng. Thường được sản xuất từbông sợi mịn đặc biệt. Loại băng đặc chủng này thường có dạng như quần lót, áo lót, ống tất. Cácloại băng gạc đặc thù này có đặc trưng là rất dễ thay đổi và không gây đau đớn, được trang bị đặcchủng cho quân y đơn vị.

Băng lưới: Khác biệt so với băng thông thường ở chỗ có thể giữ được rất lâu ở một vị trí trên cơthể như đầu, các khớp và thân thể. Ngoài ra, băng lưới còn làm thoáng da, không ngăn cản hô hấp ởda. Cần chú ý khi lựa chọn các loại băng khác nhau do băng có tính đàn hồi, nếu chặt quá sẽ bó vếtthương, gây khó chịu và đau đớn, nếu rộng quá sẽ mất tính đàn hồi, dễ rơi và tuột khỏi vết thương.





Vị trí đặt băng lưới đối với bệnh nhân người lớn (а), và trẻ em.(б). Số trên ảnh là (No) số của băng lưới.

Băng thông thường. Có những phương pháp sử dụng băng thông thường để băng các vết thươngtrên toàn bộ cơ thể; đó là băng kiểu quang, băng quấn vòng tròn, băng quấn kiểu chữ chi và băngquấn kiểu số 8. Để băng theo phương pháp thông thường này các chiến sỹ thường dùng cơ số bôngbăng y tế mang theo.

Băng kiểu quang( Quai) được dùng để băng phần đầu, mũi và cằm của người bị thương, chiều rộngcủa băng phải trùm lên toàn bộ vết thương, để băng được cần cắt dọc theo băng ở hai đầu, chiều dàicủa băng phải dài bằng 11/2 vòng quanh đầu. Đặt phần không bị cắt lên gạc đặt trên vết thương, sauđó kéo căng ra phái đằng sau hay lên trên rồi buộc thắt nút lại.

Băng quấn tròn Được dùng để quấn các vết thương không lớn trên cơ thể như mắt, tai, đầu trán.Nhưng thuận lợi nhất là quấn băng cho vùng cổ , vai, thắt lưng

Băng quấn đan chéo chữ chi Thường dùng để quấn băng quanh các bộ phận kéo dài của cơ thể nhưtay, chân, quấn băng lần lượt theo các đường chéo từ bên trái qua bên phải để xếp băng thànhnhững lớp đan chéo đè lên nhau như băng quấn tròn. Kiểu quấn băng ấy giữ chắc gạc trên vếtthương khi di chuyển và tránh tuột băng.

Băng quấn kiểu số 8. Thường được dùng để băng các vùng khớp như bả vai, khuỷu tay, đầu gối.Những vòng quấn đầu tiên của băng thường dưới phần khớp, sau đó lên trên, rồi lại xuống dưới theokiểu số 8 cho đến khi che hết phần vết thương. Khi băng những vòng đầu tiên nên kéo nhẹ băng, cácvòng tiếp theo quấn chặt hơn, khi kết thúc vòng cuối cùng của băng thì gài lại bằng kim băng. Khôngnên gài băng vào vòng băng trước đó, do sẽ làm tăng áp lực lên vết thương và gây đau đớn.







Các loại băng bó : а — Băng quấn tròn; б — Băng kiểu úp mai rùa; в — Băng trượt; г — Băng kiểu chữ thập; д — Băng kiểu chữ chi; е, ж, з — Băng kiểu quang (Quai).

Băng nén. Thường dùng để chặn các vết thương chảy máu nhiều. Thông thường trên vết thương đặt 1 cục bông gạc to lên vết thương và quấn chặtbăng lên trên miếng gạc đó. Cần nhớ, quấn băng chặt quá quanh một số vùng trên cơ thể, nơi có các động mạch chủ chạy qua có thể dẫn đến hoạ itử các chi của cơ thể. Trong một số trường hợp bị thương nhẹ có thể sử dụng loại băng co dãn có tính đàn hồi cao. Loại băng co dãn này được sản xuất từ chất liệu vải có tính đàn hồi như cao su. Những loại băng này giảm sự hoạt động của khớp bị tổn thương và làm tốt khả năng chèn đè. Thông thường có thể sử dụng dạng như bit tất, nịt, găng. Hoặc đối với các khớp dùng các băng chun dành cho đầu gối, khuỷu tay, ống.





Các bước sơ cứu khi bị thương như sau: Cần phải mở phần vết thương, để làm được việc đó cần phải cắt hoặc xé theo chỉ khâu của quần áo quân phục. Mùa đông, trời tuyết cần phải cắt một miếng rộng ở vị trí xuyên qua của viên đạn hoặcmảnh đạn để có thể không khó khăn lắm đặt băng gạc lên vết thương. Khi vết thương xuyên thấu hoặc vết thương mù được đặt miếng băng, gạc sẽ tiến hành băng bó bằng băng. Cuộn băng được giữ bằng tay trái, tay phải vừa cuốn vửa mở băng, hơi kéo căng băng nhưng không được để băng cắt vào thân thể thương binh. Băng bó có thể trên thân trần của thương binh, hoặc băng trên trang phục nếu đã khoét lỗ. Mỗi vòng quấn phải đè lên vòng đã quấn là ½ . Trên tay và chân cần bó từ vị trí nhỏ đến vị trí to hơn, sau đó lại quay trở lại và kết thúc băng bó trên phần nhỏ hơn của chi. Như vậy băng sẽ giữ tốt hơn, nếu băng đặt không đều, tạo ra túi hoặc bị phồng, cần phải tháo ra băng lại.











Các phương pháp quấn băng thông dụng







Băng đầu và mũi









Băng ngực và băng giữ tay







Băng tay, đầu và vai









Băng bàn chân và khớp gối kiểu chữ thập









Dùng băng vải tam giác băng tay







Băng ngón tay và bàn chân, ngón chân





Khi quấn băng phía gáy, cần băng theo kiểu số 8, 1 vòng quanh cổ, một vòng quanh đầu, như vậy băng sẽ giữ chắc chắn. Phương pháp này cũng được sử dụng để băng vùng đùi, bẹn. Một vòng quanh bẹn, một vòng quanh sườn, băng bó khớp đầu gối theo hình số 8, một vòng quanh đầu gối, một vòng quanh bàn chân, trên cổ tay và bàn tay quấn hình chữ thập. Khi đã băng xong, cần siết hơi chặt và giữ chặt bằng kim băng an toàn có sẵn trong gói giấy cứu thương.
Khi quấn băng cần chú ý để các ngón tay không chạm vào bông gạc và và vết thương. Tuyệt đối không được chạm vào vết thương, sờ tay lên vết thương hoặc lấy vật gì đó trong vết thương. Mọi va chạm trên chiến trường vào vết thương đềucó thể gây viêm nhiễm nghiêm trong. Trong trường hợp khó khăn trên chiến trường, băng có thể được sử dụng từ các loại vải khác nhau, được cắt hoặc xé thành dải băng. Sơ cứu vết thương nhiều khi xảy ra giữa làn đạn, nên người chiến sỹ phải thành thạo trong việc băng bó vết thương.

Sơ cứu vết thương chiến tranh (P2)

Chảy máu và cách dừng chảy máu

Hệ thống tuần hoàn và các mạch máu lan tỏa trong toàn bộ cơ thể con người. Mạch máu là các ống mao mạch, được chứa đầy máu, dưới tác động của tim, máu trong các mạch máu liên tục chẩy. Máu rửa sách các cơ quan và các tế bào trong cơ thể, mang đến từ hệ tiêu hóa chất dinh dưỡng, từ hệ hô hấp khí O xy và các khí cần thiết khác cần thiết cho đời sống. Từ những tế bào của cơ thể, máu mang khí CO2 và những chất thải cần phải thoát ra khỏi cơ thể. Qua thận, máu giải phóng khỏi những chất thải. Máu mang khí CO2 đến phổi, phổi giải phóng khí CO2 khỏi máu và đẩy ra ngoài. Như vậy, máu đóng vai trò quan trọng nhất trong duy trì sự sống của cơ thể người, máu đảm bảo sự trao đổi chất và hô hấp của các tế bào.







Máu là chất lỏng, được gọi là huyết tương, bơi trong huyết tương là hàng tỷ tỷ quả cầu nhỏ li ti màu đỏ và mầu trắng. Đó là hồng cầu và bạch cầu. Huyết tương trong xuốt và hơi có mầu vàng, nhưng số lượng khổng lồ các hồng cầu đã cho máu có mầu đỏ. Một giọt máu có thể chứa đến 2 trăm triệu hồng cầu. Màu đỏ của máu do đặc tính đặc biệt của chất protein này, đó là hemoglobin, trong cấu tạo phân tử của nó có thành phần là sắt. Huyết tương mang theo trong đó các chất dinh dưỡng đã hòa tan như đường gluco, protein, mỡ. Hồng cầu mang theo oxy và khí cac bon nic, hồng cầu mang oxy có mầu đỏ tươi, còn hồng cầu mang cacbonnic có mầu đỏ sẫm.
Bạch cầu trong mạch máu có số lượng nhỏ hơn hồng cầu hàng nghìn lần, bạch cầu có khả năng tự chuyển động và thẩm thấu qua thành của mặt máu vào tế bào để tiêu diệt các vi khuẩn, có khả năng tự tìm kiếm, bắt và ăn vi khuẩn. Khả năng tiêu diệt vi khuẩn trong máu và trong tế bào là đặc điểm quan trọng chính của bạch cầu.







Huyết áp và sự chuyển động của máu phụ thuộc vào tim, tim như máy bơm áp lực, bơm máu đi khắp cơ thê. Máu chảy theo các mạch máu, các mạch máu càng xa tim, càng nhỏ dần, nhỏ đến li ty, được gọi là động mạch. Chính các mao mạch nay đã thực hiện quá trình trao đổi chất của tế bào.
Sau đó, máu sẽ quay trở lại các ven tĩnh mạnh, đó là những mạch máu quay trở lại, tim đẩy máu đi qua phổi, trao đổi CO2 và Oxy và trở về tim. Những động mạch và ven tĩnh mạch ở gần tim có đường kính lên tới vài cm, động mạch, tĩnh mạch chủ ở hông đùi có đường kính bằng bút chì, động mạch và tĩnh mạch của phần vai nhỏ hơn một chút. Chiều dài của các mạch máu rất dài, hàng trăm nghìn km và tạo ra một mạng lưới dày đặc trên cơ thể con người.
Khi bị thương do các vật gây lên, sẽ làm tổn thương các mạch máu, gây hiện tượng chảy máu, Nếu vết cắt nhỏ, chỉ làm tổn thương các mao mạch nhỏ, các mạch máu sẽ tự cầm máu do tính chất đặc biệt của máu. Ra ngoài không khí, máu sẽ đông đặc lại và gắn kết lại như keo. Lớp keo này sẽ khô lại và bịt kín vết cắt trong vòng từ 7 đến 10 phút . Đặc biệt khi có bông, băng hoặc các vật chất khác đè nhẹ ngăn cản chảy máu. Chảy máu trên diện rộng của các mao mạch nhỏ không gây nguy hiểm cho cơ thể, do tồn thương ở các mao mạch nhỏ dẫn đến chảy máu, và máu sẽ nhanh chóng đông và bịt kín các mao mạch, ngăn chặn hiện tượng chảy máu và sau 7-10 phút, máu sẽ đông và từ từ khô lại. Ngoại trừ những trường hợp có bệnh máu không đông, khi đó sẽ rất nguy hiểm cho người bị thương do máu chảy mãi không cầm. Tương tự như vậy, nếu bị thương ở ven (tĩnh mạch) hiện tượng chảy máu cũng nhanh chóng được cầm máu, do khi đó máu chảy về tim, huyết áp không lớn, máu chảy chậm. Do đó, máu đông rất nhanh nên không bị mất máu nhiều. Chảy máu từ ven thường chậm, đều và có mầu đỏ sẫm. Khi tĩnh mạch chủ bị thương, đặc biệt ở cổ, máu sẽ chảy mạnh hơn, nhưng khi thở ra, máu chảy mạnh, khi hít vào, máu chảy yếu đi, thậm chí dừng hẳn. Chỉ khi ven lớn bị phá vỡ thì mới gây hiện tượng mất máu nhiều. Tổn thương ở ven nhỏ và vừa ít khi gây nguy hiểm cho tính mạng
Tổn thất động mạch thì hoàn toàn khác hẳn, máu trong động mạch dưới áp lực bơm máu của tim. Chảy với tốc độ và huyết áp cao. Nếu động mạch bị thương, máu sẽ chảy ra rất nhanh. Do đó, máu hoàn toàn không có khả năng tự động đông và cầm máu được. Hiện tượng mất máu xảy ra rất nhanh, trong thời gian ngắn có thể mất rất nhiều máu. Bị thương ở động mạch chủ rất nguy hiểm, nhất là các động mạch lớn. Dấu hiệu vỡ động mạch chủ là máu màu đỏ tươi, chảy rất mạnh, có thể chảy thành vòi hoặc tràn ra rất nhanh, với thời gian ngắn có thể làm ướt cả quần áo.
Chảy máu động mạch chủ- không chỉ là nguy hiểm nhất của hiện tượng chảy máu. Đây là dấu hiệu nguy hiểm nhất của các hậu quả của vết thương trên chiến trường. Hiện tưởng chảy máu nguy hiểm hơn nhiễm độc vết thương, nhiễm trùng vết thương có thể kéo dài từ 1-2 ngày. Mất máu có thể diễn ra trong vòng vài phút, nếu vết thương trúng động mạch chủ và không kịp ngăn chặn cầm máu.





Kiểm tra mạch đập để xác định vết thương có trúng động mạch chủ hay không



Người bình thường có khoảng 5 lít máu, mất ¼ lít hoặc ½ lít, cơ thể sẽ nhanh chóng phục hồi. Do đó người cho máu không hề bị tổn hại, và lượng hồng cầu còn tăng hơn cả lúc chưa cho máu. Nhưng mất đến 1 lít máu có thể gây nguy hiểm trầm trọng, thậm chí dẫn đến hy sinh. Trong trường hợp máu chảy nhiều. Lượng huyết tương trong mạch máu mất đi, tạo ra các mạch máu rỗng, khi đó tim sẽ hoạt động mà không có máu. Dòng máu bổ xung cho mạch máu rất ít, huyết áp tụt xuống nhanh. Nếu có 2 người bị thương mất máu, một người bị chảy máu từ từ cả ngày, còn một người khác mất 1 lượng máu lớn tương đương trong 10 phút, thì người thứ 2 sẽ dẫn đến mất tính mạng do tim bị phá vỡ quy trình làm việc. Chính vì vậy, khi người bị thương mất máu nhiều, cần truyền huyết thanh để duy trì lượng huyết tương có trong cơ thể, đảm bảo tim hoạt động tốt, bao gồm cả truyền nước dừa trong trường hợp khẩn cấp. Hiện tượng mất máu nhanh sẽ ảnh hưởng đầu tiên đến não bộ, bộ phận cần ổn định lượng máu cung cấp. Nếu thiếu máu, các tế bào và các dây thân kinh não sẽ chết, và người bị thương tử vong.
Cầm máu khi bị thương trúng động mạnh là nhiệm vụ quan trong, nhưng quan trọng hơn là thời gian cầm máu. Đây là điều vô cùng quan trọng, vì cầm máu khi trúng động mạch là thời gian cầm giữ không cho thương binh mất máu quá nhiều dẫn đến tử vong, chống được chảy máu và kịp thời đưa thương binh đến quân y viện để cấp cứu triệt để. Mọ người, đặc biệt là các chiến sỹ phải hiểu rõ về cầm máu, phải thực hiện thành thạo, chính xác phương pháp cầm máu và thời gian cầm máu.





Garo vết thương chạm động mạch ở tay. Garo bằng vải hay bằng khăn tay cần được thực hiện bằng thanh cứng vặn xoắn, phương thức thực hiện như hình trên.

Phương pháp đáng tin cậy nhất để ngăn chặn chảy máu ở các động mạch là garo. Phương pháp garo là phương pháp dùng dây băng dài hoặc ống gen có đường kính bằng ngón tay từ ống cao su mềm hoặc vải co dãn. Buộc chặt garo ở phía trên vết thương tay hoặc chân, có thể dễ dàng chăn được động mạch và máu chảy ra vết thương. Băng garo cao su thường chỉ có ở y tá, y sỹ và trong quân y viện. Khi cần sơ cứu trong điều kiện khẩn cấp của tai nạn, thảm họa và chiến trường, thường không có dụng cụ garo, do đó, mọi vật có trong tay như thắt lưng, dây to bản, vải hay khăn tay cũng có thể là công cụ để garo cầm máu. Cần thực hiện chính xác các phương pháp garo là có thể cầm máu được. Chiến sỹ cần chú ý các hiện tượng chảy máu, việc garo không cần thiết các vết thương không có hiện tượng chảy máu động mạch chủ, có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của thương binh.
Khi xác định xem thương binh có bị trúng thương vào động mạch chủ hay không, ngoài xem mầu máu và chảy máu như thế nào, cần kiểm tra nhịp tim bằng cách đo nhịp đâp mạch trên cổ tay thương binh (phương thức này còn dùng để xác định xem bệnh nhân có bị chảy máu trong hay không) Phương pháp này thường sử dụng khi xảy ra vết thương mù hoặc kín, máu trào ra khỏi vết thương it, nhưng lại chảy ngầm bên trong cơ thể. Khi bị mất máu, nhịp đập của mạch máu trên cổ tay hoặc cổ chân rất yếu, thậm chí mất hẳn, mặt trắng xanh, choáng sốc. Kiểm tra nhịp đập và huyết áp không cần có dụng cụ đặc biệt và chuyên môn kỹ thuật, người chiến sỹ chỉ cầm tập kiểm tra mạch đập trên cổ tay hoặc cổ chân vài lần trong ngày, sau một thời gian là có thể kiểm tra chính xác nhịp đập của mạch máu. Kỹ năng đo nhịp tim và huyết áp rất có lợi trong cuộc sống đời thường. Ví dụ; trúng thương máu chảy rất nhiều, thấm ướt cả quần áo, cần phải kiểm tra nhịp tim và áp huyết, nếu áp huyết tụt xuống thấp và nhịp tim đập yếu, chắc chắn là trúng động mạch chủ, nếu mạch đập bình thường thì chỉ cần ngăn máu chảy bằng bông, gạc mà không cần garo. Bị thương ở chân trên chiến trường, không cần thiết phải kiểm tra huyết áp và nhịp mạch ở chân. Vết thương chảy máu nhiều ở chân cần được garo ngay khi không chắc chắn rằng, có trúng vào động mạnh chủ hay không, vì garo ở chân không gây nguy hiểm nhiều như ở tay nhưng cần chú ý thời gian nới garo để lưu thông máu.





Những vị trí có thể đặt garo



Những nguy hiểm khi tiến hành garo

Khi garo, ngoài việc cầm máu còn xảy ra là garo đè lên hoạt động của dây thần kinh, do đó sẽ dẫn đến hiện tượng tê bại tay hoặc chân.

Thời gian garo quá dài (hơn 2 giờ) sẽ dẫn đến tình trạng hoại tử các chi hoặc các khu vực có vết thương.

Đương nhiên, trong những điều kiện đặc biệt, việc cứu sống tính mạng người lính vô cùng quan trong, cũng có lúc phải hy sinh một phần cơ thể để giữ lại mạng sống của chiến sỹ. Nhưng nhưng trường hợp chưa khẩn cấp đến phải garo, những sai lầm trong chuẩn đoán tình trạng vết thương và không theo dõi được thời gian nới garo có thể dẫn đến sai lầm nghiệm trọng gây tổn thất lớn cho thương binh.





Garo vết thương ở chân



Garo bằng thắt lưng được hướng dẫn bằng hình ảnh. Cần luồn dây để tạo ra hai vòng tròn, đưa vào vị trí cần garo và kéo chặt lại.



Khi đặt garo cần chú ý đặt lên phía trên vết thương, gần với thân người. Nhưng garo không được phép ảnh hưởng đến việc băng bó vết thương. Không được đặt garo lên da trần, đặc biệt khi sử dụng dung cụ không chuẩn y tế như dây chun hoặc thắt lưng. Garo phải được đặt trên quần áo, hoặc lớp vải đệm mềm quấn xung quanh, không dưới 2 lớp.



Garo khi vết thương mất cánh tay

Không nên đặt garo quá chặt, vì nếu kéo chặt quá sẽ gây tổn thương thần kinh và cơ. Nhưng nếu đặt garo lỏng quá sẽ gây ra chảy máu mạnh hơn, do mạch máu chính đã ngừng chảy, nhưng dưới huyết áp các mạch máu nhỏ sẽ chảy mạnh hơn, thành dòng. Garo được xiết chặt cho đến khi máu ngừng chảy từ vết thương và không tìm thấy mạch đập trên cổ tay. Khi thương binh mặc quần áo quá dày (mùa đông) cần xiết chặt thêm một chút, do quần áo sẽ co lại và máu lại tiếp tục chảy. Không được để tay hoặc chân đặt garo quá 1 giờ, vì sau 2 giờ sẽ gây hoại tử vết thương hoặc tay chân. Nếu trong vòng 2 giờ, do điều kiện chiến trường, chưa thể đưa được thương binh đến quân y viện dã chiến hoặc trạm phẫu dã chiến, cần phải tháo garo và buộc lại, ở vị trí cao hơn hay thấp hơn vị trí đã đặt garo.



Dụng cụ đặt garo chuyên dùng



Trong những điều kiện đặc biệt, khó đặt garo hoặc không có phương tiện garo, hoặc tình huống người bị thương chỉ có một mình sẽ rất lâu để có thể garo được, phương án tối ưu là tạm thời ngăn chảy máu bằng dùng lực, không được phí 1 giây. Đó là bẻ gập tay lại ở tư thế chèn lên động mạch hoặc gập co đầu gối. Mạch máu sẽ bị chèn lại và không chảy xối xả.



Gập khóa các chi để chặn chảy máu động mạch

Nếu vết thương ở phần mạng sườn phía dưới, gần bụng dưới hoặc vùng bụng dưới, gập chân lên bụn có thể tạm thời chăn được máu chảy. Khi vết thương nằm trên vùng khuỷu tay có thể chặn lại bằng cách bẻ tay ra phía đằng sau lưng đến hết cỡ tay. Chú ý không quá mạnh, có thể do vội mà gây trật khớp xương bả vai. Ở vị trí này động mạch chủ bị chèn đè bởi xương bả vai và xương sườn. Gập các khớp được giữ bằng tay hoặc bằng dây băng. Bản thân người bị thương có thể tự gập tay hoặc tự co chân và giữ bằng hai tay, cho người hỗ trợ có thể nhanh chóng tìm công cụ để cố định các chi.
Một số trường hợp có thể đè lên động mạch chủ bằng tay. Khi vết thương nằm ở các vị trí mà động mạch nằm dưới da không sâu và phía dưới là xương, có thể dùng để chặn mạch máu.
Vị trí có thể đè chặn được là trên nhóm cơ cánh tay, đùi trên khi bị thương ở chân. Đặt tay vào vị trí như trên hình 16, phương pháp là sờ tay vào vị trí đã nêu, tìm ven và đè chặt nó xuống xương, máu sẽ nhanh chóng ngừng chảy. Với vết thương ở đùi, cần dùng đến 2 tay do mạch máu to hơn và ở sâu hơn. Nếu vết thương ở phần cổ, cần đặt tay vào vị trí của ven bên cổ, và dùng ngón tay ép chặt vào bên xương cột sống cổ. Đông mạch cổ nằm bên cạnh phải của cổ họng và thực quản. (.17.18).



Các vị trí đè tay chống chảy máu



Thương binh tự tay chặn vết thương chỉ trong trường hợp khẩn cấp, nhưng không giữ được lâu hơn vài phút, người khỏe nhất 8-10 phút. Sau đó cần có quân y đến thực hiện các giải pháp cầm máu hoặc đồng đội trợ giúp. Đương nhiên, tốt hơn hết là kịp thời đặt garo, khi máu chảy chưa nhiều và thương binh còn đủ sức.
Dừng chảy máu có thể được thực hiện bằng phương pháp đè lên vết thương bằng bông gạc cấp cứu. Phương pháp này rất tốt trong trường hợp các động mạnh không quá lớn và phía dưới động mạch có xương. Thường là phần trên đầu, áp lực lên vết thương là các cuộn băng cá nhân có trong gói y tế cá nhân của chiến sỹ. Phương pháp như sau: Đặt bông gạc lên trên vết thương của gói bông băng y tế thứ nhất, phía trên đặt tiếp cuộn thứ 2 đã được xé túi bảo vệ, nhưng không giở ra, phía trên bắt đầu quấn băng, vừa quấn vừa kéo cho băng quấn hơi căng, để đè cuộn bông băng, gạc xuống vết thương, băng đè theo phương pháp này tốt nhất băng theo phương pháp chữ thập như trên hình đã nêu.






Băng nén cổ



Băng nén vết thương có thể băng cho phần cổ. Nhưng để tránh ngạt thở cho thương binh, phía bên kia cần có thanh đỡ bằng gỗ hay nhựa cứng, gác 1 đầu lền đầu thương binh, đầu thứ 2 lên vai, trên vết thương đặt bông băng gạc và quấn băng lên cả thanh đỡ lẫn vết thương, siết nhẹ để băng có thể đè lên gói bông băng chèn đè cầm máu. Phương pháp đè lên vết thương thường sử dụng tốt nhất trong các trường hợp vết thương chạm tĩnh mạch hoặc chảy nhỏ giọt, hoặc không còn giải pháp nào khác, như những vết thương vùng bụng hoặc ngực. Phương pháp này không sử dụng lâu trong quá trình tải thương về trạm cấp cứu, nhưng có thể dành 1 chút thời gian cho sự sống. Và có hy vọng máu sẽ đông lại ở miệng vết thương và giảm bớt mất máu, nâng cao khả năng sống còn của chiến sỹ.
Vậy, khi gặp những vết thương chảy máu mạnh, cần nhanh chóng dùng mọi biện pháp (Garo) đã nêu để dừng tình trạng mất máu. Bông băng gạc bị thấm đẫm máu phải thay rất nhanh, vì khi bị thấm máu, chúng không còn khả năng kháng khuẩn và dễ gây trường hợp nhiễm trùng máu. Những trường hợp chảy máu nhỏ giọt và chảy từ ven tĩnh mạch không cần thiết phải garo, mà chỉ cần dùng bông gạc và băng nén chặt lên vết thương để cầm máu.





Với các vết thương ven, có thể đặt băng chèn đè, với các vết thương động mạch, cần chặn máu chảy và đặt garo.

Trình tự sơ cứu vết thương trên tay, chân như sau: Trước hết gập các khớp tay, chân để ngăn chăn tình trạng mất máu, sau đó cắt hoặc xé rộng quần áo trên vết thương, nới nhẹ các khớp để kiểm tra xem vết thương trúng động mạch hay không. Nếu trúng động mạch phải thực hiện garo vết thương, sau đó tiến hành băng bó sơ cứu.





Nếu vết thương ở đầu thì tức khắc phải băng cầm máu bằng cách băng đè lên vết thương để cầm máu. Nếu vết thương ở phần cổ hoặc trên mặt thì dùng ngón tay để chặn tạm thời động mạch cổ (thời gian rất hạn chế) sau đó đặt bông băng chèn đè để cầm máu.
Nếu chúng ta hành động nhanh, chính xác, dũng cảm và khéo léo, thì các trường hợp, dù chảy máu rất mạnh, đặc biệt ở chi, đều có thể ngăn chặn được mất máu, do có thể đặt garo được, và có thể cứu được mạng sống của chiến sỹ.



Thông thường, thương binh khi mất nhiều máu đều nằm trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, Khi mất nhiều máu thương binh trở lên trắng bệch, cảm thấy khát nước, có tiếng ù ở tai, dễ rơi vào trạng thái hôn mê. Để chống lại trạng thái này, thương binh được đặt nằm nằm sao cho đầu thấp hơn cơ thể. Tốt nhất là chân đặt kê cao hơn thân. Ở tư thế này máu chảy lên não nhiều hơn, vì thiếu máu lên não có thể gây tử vong. Di chuyển thương binh ở trạng thái nằm khi mất máu, kể cả người có thể đi được cũng phải nằm một thời gian, để tim quen với trạng thái thiếu máu, ở trạng thái đứng thương binh có thể rơi vào tình trạng hôn mê sâu do thiếu máu lên não.








Chặn chảy máu vết thương ở tay và chân trên chiến trường



Thương binh mất máu nhiều khi đã garo có thể cho uống nước để bổ xung lượng máu đã mất, nhưng nếu bị thương ở vùng bụng và ngực, có nguy cơ chảy máu trong hoặc đã băng bó không được uống hoặc ăn. Thương binh cần biết chính xác mình có bị tổn thương động mạch hay không, vì tổn thương động mạch có thể dẫn đến chảy máu không chỉ ngay tức khắc, mà có thể diễn ra sau vài ngày hoặc cả tuần. Sự bất ngờ chảy máu có thể dẫn đến tử vong do không nắm được bệnh lý. Người bị thương vào động mạch cần rất chú ý đến vết thương của mình, đặc biệt là ở chân và ở tay khi cử động. Nếu xuất hiện hiện tượng chảy máu, dù chỉ là thấm mấy giọt, cần phải thông báo cho bác sỹ ngay tức khắc. Chỉ khi nào biết chắc rằng động mạch ở vết thương vẫn nguyên vẹn, mới khẳng định an toàn. Ngoài việc mất máu, vết thương ở động mạch và tĩnh mạch có thể đưa không khí vào tim. Không khí vào máu có thể gây chết người, vì vậy khi vết thương ở cổ cần nghiêng đầu về phía vết thương để miệng vết thương kép lại và không mở rộng ra, sau đó đặt băng để bịt vết thương.


Đau đớn, gãy xương và nẹp



Tính chất quan trọng thứ 3 của vết thương là đau. Mọi vết thương đều tạo lên cảm giác đau đớn, nhưng sự đau đớn có thể rất khác nhau. Một số vết thương đau ít. Đại đa số những vết thương bị gây ra bởi các vật sắc nhọn, như đạn, dao hoặc vật nhọn khác xuyên qua phần mềm, con người đều có thể chịu đựng được và không ảnh hưởng đến sức khỏe. Nhưng có những vết thương gây ra những cơn đau đớn ngoài sức chịu đựng. Đau đớn nặng và kéo dài có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, đó là đau do vết thương vùng bụng, vùng ngực, đau do bị tổn thương các khớp và do bị gẫy xương, đau do tổn thương hệ thần kinh. Các cơn đau này làm tổn thương và tê liệt hệ thống thần kinh, làm mất khả năng làm việc của tim và toàn bộ hệ thống tuần hoàn với chu kỳ luân chuyển máu, Đau đớn quá sức chịu đựng sẽ gây trạng thái nguy kịch và chết. Đặc biệt nguy hiểm khi cơn đau không xuất phát từ vết thương, mà trạng thái khong ổn định, phần bị thương chịu tác động bởi nội hoặc ngoại lực như di chuyển lực ép, lực đẩy. Điều đó thường xảy ra với các vết thương như gẫy xương hoặc các khớp xương. Khi người bị thương nằm bất động, đau đơn có thể chịu đựng được, nhưng khi di chuyển, nhưng cơn đau trở lên quá sức chịu đựng và vô cùng nguy hiểm. Nhưng thương binh cần di chuyển khỏi chiến trường. Để có thể di chuyển được, cần cô lập vết thương khỏi trạng thái di chuyển, bảo vệ nó khỏi những tác động nội lực và ngoại lực.v.v… Phương pháp tốt nhất là đặt các thanh nẹp vết thương. Ngoài việc giảm đau, các thanh nép có tác dụng định vị các xương gẫy không di chuyển khỏi vị trí đã gẫy ban đầu, giảm tổn thương phần mềm và tạo điều kiện nối lại các khớp xương trong phẫu thuật.







Nẹp là công cụ gá, có tác dụng giữ cho các bộ phận tay, chân hoặc một phần cơ thể trong trạng thái bất động. Đã có nhưng bộ nẹp phức tạp được làm từ gỗ, dây.v.v.. Nhưng trong điều kiện chiến trường có thể sử dụng bất cứ một vật nào đủ cứng và dài, thuận tiện cho buộc các chi bị thương để loại trừ khả năng di chuyển và cô lập bộ phận cơ thể để không gây đau đớn quá sức chịu đựng. Đặt nẹp là biện pháp sơ cứu đầu tiên cho những thương binh bị gãy xương hay khớp. Nép có thể sử dụng từ những thanh nẹp quân y đã chuẩn bị sẵn hoặc từ ván, thanh gỗ, cành cây.v.v..xương gẫy càng to và quan trọng thì càng cần nẹp to, rộng và vững chắc. Chiều dài của nẹp cần phải dài hơn bộ phận cơ thể bị chấn thương và ảnh hưởng của nó đến cơ thể. Gãy cẳng tay thì nẹp sẽ gắn hơn là gẫy cánh tay, nép sẽ phải buộc xuốt cả cánh tay. Tương tự như vậy với chân, đùi, xương háng, xương sống.v.v…Ví dụ: Nếu bị thương gẫy xương đùi hoặc khớp đùi, nẹp sẽ là cả tấm nẹp bên ngoài dài từ thắt lưng đến bàn chân.. Tấm nẹp thứ 2 sẽ dài từ giữa đùi đến bàn chân. Nẹp được buộc chặt vào phần cơ thể bị tổn thương ít nhất là 3 chỗ, ở hai đầu và phần giữa của thanh nẹp. Tốt nhất là băng giữ nẹp được quấn từ đầu thanh nẹp đến cuối bộ phận tổn thương mà thanh nẹp giữ. trên hình giới thiệu vị trí nẹp từ các vật liệu khác nhau trên các chi.






Đặt nẹp để sơ cứu chấn thương cho thương binh được tiến hành sau khi đã cầm máu và băng bó vết thương. Có thể xảy ra tình huống không có vật liệu cho làm những cái nẹp thích hợp và mọi vật xung quanh đều bị nhiễm độc hoặc phóng xạ.







Khi đó, chân bị gẫy xương cần nẹp chặt vào với chân lành lặn, tay người bị thương được buộc chặt vào cơ thể người. Phương pháp giản đơn này cũng giúp cho người bị thương không bị đau đớn, và cho phép di chuyển thương binh ra khỏi vùng nguy hiểm về trạm quân y tiền phương. Không được phép đặt nẹp quá chặt, thắt lưng, dây da, băng không được hằn sâu vào cơ thể thương binh. Nếu nẹp làm thương binh khó chịu hoặc đau, là đã không đặt nẹp chính xác.





Cũng có trường hợp, các chi của cơ thể bị vặn xoắn, bẻ xuôi ngược không còn trong trạng thái bình thường. Những chiến sỹ sơ cứu đồng đội không có kinh nghiệm sẽ có ý định xắp xếp lại cho đúng, nhưng điều đó vô cùng nguy hiểm cho thương binh, và các mảnh xương vỡ có thể xuyên, xé cơ hoặc các động mạnh và tĩnh mạch bên cạnh vết gãy, đồng thời có thể gây ra cơn đau dữ dội cho thương binh, làm chậm tiến độ cấp cứu thương binh. Nếu nhìn thấy xương gẫy xuyên qua cơ ra phía ngoài cũng không được phép chạm tay vào vì có thể gây nhiễm khuẩn nặng nề cho vết thương.





Nẹp khi di chuyển thương binh bị chấn thương cột sống ( a, b) chấn thương đùi, xương bánh chè, ( J) cánh tay và bả vai.





Chỉ cho phép nhẹ nhàng và theo dõi nét mặt của thương binh để di chuyển nhẹ bàn chân hoặc ngón tay. Sau đó băng và nẹp cố định cơ thể thương binh. Mọi phương pháp cứu chữa đều phải được thực hiện trên bàn phẫu thuật của quân y.



Sơ cứu vết thương chiến tranh (P3)

Chương 2. Bỏng và sơ cứu vết thương bỏng

Chương 3. Chấn thương do sức ép, áp lực vùi lấp thời gian dài và sơ cứu khi bị sức ép

Chương 2

Bỏng và sơ cứu vết thương bỏng

Bỏng là vết thương trên cơ thể con người, bị gây ra dưới tác động của nhiệt độ rất cao, có nghĩa là bị đốt cháy ở nhiệt độn cao. Bỏng có thể do lửa chảy, chất lỏng có nhiệt độ cao, kim loại nóng đỏ hoặc nóng chảy, hơi nước, không khí có nhiệt độ cao. Bỏng cũng có thể xảy ra khi cơ thể bị chiếu xạ bởi những tia quang học có công suất rất lớn ( như một hiện tượng cháy nổ có cường độ mạnh, có nhiệt độ hàng nghìn độ)

Trong chiến tranh, chiến sỹ có thể bị bỏng do đối phương sử dụng các loại vũ khí đặc biệt, có sử dụng các hợp chất cháy như napal, tecmit, photpho, bom nhiệt áp hoặc vũ khí hạt nhân. Ngoài ra, còn có thể bị bỏng do các vụ cháy nổ xảy ra khi vũ khí đạn dược, trang thiết bị hoặc công sự phòng thủ bị cháy do sự phá hoại của bom đạn địch. Trong mọi trường hợp, vết bỏng đều xảy ra khi có lửa và nhiệt độ quá cao..
Thông thường, những phần cơ thể không được che chắn bởi quần áo hay trang bị bị tổn thương trước hết. Do quần áo và trang bị đã giảm đi rất nhiều sự nhân tố gây tổn thương của lửa, khống khí nóng và chiếu xạ nhiệt, do đó, các vết bỏng thường bắt đầu từ tay và mặt. Nhưng nếu quần áo bị cháy, đặc biệt là quần áo thấm mồ hôi hoặc nước, thì vết bỏng rất sâu và nặng, nếu bị bỏng bởi chất lỏng như nước sôi, phần cơ thể có quần áo có thể bị bỏng nặng hơn phần không bị che chắn, do hơi nước, đọng trong vải, nguội lâu hơn và tác động lâu hơn nên cơ thể.
Cơ thể người nếu chịu tác động càng lâu của nhiệt, thì vết bỏng càng năng. Viết bỏng gây ra do chiếu xạ nhiệt và không khí nóng thường tác động rất nhanh, trong khoảng thời gian xảy ra vụ nổ ( bom nhiệt áp, bom hạt nhân). Nhưng những vật chất gây cháy như xăng, napalm, photpho hoặc quần áo bị cháy sẽ lâu hơn rất nhiều và càng lúc càng nặng. Vì vậy, nguyên tắc đầu tiên khi bị bỏng là cố gắng dập tắt lửa và loại bỏ quần áo đang bén lửa cũng như các chất cháy trên cơ thể nạn nhân.
Hiện tượng cháy – Đó là hiện tượng oxy hóa rất nhanh, phản ứng kết hợp giữa các chất cháy và oxy có trong môi trường.





Chỉ có một số các chất đặc biệt có trong thành phần phân tử oxy và có khả năng cháy được không cần không khí, tất cả các trường hợp còn lại đều phải có không khí, nếu ngăn không khí không tiếp xúc với chất cháy thì nó sẽ tắt. Nước và gas CO2 có khả năng dập tắt lửa nhanh, do do ngăn không cho chất cháy tiếp xúc với không khí môi trường.



Phương tiện dùng để dập tắt lửa tốt nhất là BÌNH CỨU HỎA, phun ra nước được trộn với khí CO2 hóa lỏng, tạo ra dạng bọt . Trên các phương tiện có trang bị đầy đủ bình cứu hóa, như tầu chiến, xuồng máy, xe cơ giới. Rất dễ dập tắt lửa bắt cháy quần áo và các chất gây cháy trên thân người. Nhưng không nên hướng vùi phun vào mặt nạn nhân cháy và phun quá lâu, vì người được cấp cứu có thể bị ngạt thở, phương pháp tốt nhất là người bị thương nằm co lại trên mặt đất hoặc mặt bong tầu, và người cứu hộ dùng bình cứu hỏa dập lửa. Nước cũng là chất để dập lửa rất hiệu quả trên quần áo và thân người. Nếu ở gần nước, có thể nhảy xuống để dập lửa, nhưng nếu nước quá xa, không được chạy tới, khi chạy, không khí chuyển động thành gió có thể làm cho chất cháy bùng lên chùm kín người. Nếu không có nước, có thể dùng chăn, vải bạt hoặc các loại vải dầy chùm kín người. Nạn nhân bị dính lửa cần nằm xuống mặt đất, quấn mình vào vải bạt, chăn dầy hay áo choàng, áo mưa quân sự. Nếu bị cháy một bên, cần đè bên bị cháy xuống mặt đât. Khi cấp cứu người bị cháy, phương pháp tốt nhất là quấn nạn nhân vào trong vải chùm. Khi quần áo trang bị bắt cháy, phương pháp nhanh nhất là cởi bỏ. Mùa đông dễ dập lửa hơn, do không khí lạnh, có tuyết, người bị cháy cần lăn mình trên tuyết hoặc trên vùng đất ướt để dập lửa. Trong điều kiện không có gì để dập lửa, phương pháp cuối cùng là dập lửa trên người bằng cách xúc đất hoặc cát đổ lên. Đây là phương pháp cuối cùng, vì trên người đã hình thành vết thương bỏng, rất dễ bị nhiễm độc vết thương.
Giọt chất cháy như napalm, cháy trên da, cần phải dập tắt băng cách dúng phần cơ thể bị cháy vào nước hoặc đổ nước lên. Mùa đông có thể đưa tay hay bộ phận cơ thể vào tuyết. Không được cố gắng gạt chất cháy ra khỏi da. Napalm là hợp chất cháy với chất nhầy dính, nó sẽ cháy lan ra trên da, dùng tay gạt napalm sẽ dính lên tay, gây cháy bỏng trên tay. Nếu không có nước, cần quấn quanh vết cháy bỏng napalm bằng quần áo, vải mưa hoặc vải ướt. Nếu napalm rơi trên quần áo, phải cởi bỏ ngay, sau đó hãy dập tắt lửa.
Các phương pháp như trên cũng được áp dụng cho chất cháy photpho, photpho dễ gạt ra khỏi da hay quần áo, nhưng lại tự cháy được trong không khí. Hỗn hợp napalm và photpho cũng có tính chất trên. Do đó, khi dập tắt lửa, cần gạt chất cháy khỏi cơ thể, trước khi nó bắt cháy trở lại. Gạt bỏ chấy cháy photpho rất dễ dàng, nhưng gạt bỏ hỗn hợp cháy napalm photpho rất khó, vì napalm có tính chất dính vào cơ thể, cần quấn chặt vết bỏng bằng vải ướt và chuyển về quân y, chấy cháy sẽ bị loại bỏ bởi các cán bộ quân y viện. Quần áo, trang bị, nếu bị bắn napalm vào, phải vất bỏ hoặc cắt bỏ, tránh trường hợp napalm cháy lại.

Các mức độ tổn thương do bỏng.





Mô hình lớp da người



Mô hình độ bỏng



Khi bị bỏng, lớp da bên ngoài bị tổn thương, lượng máu trong cơ thể chảy tăng cường về phía vết bỏng, các dây thần kinh trên bề mặt da bị tổn thương, xuất hiện rất nhanh hiện tượng tấy đỏ, cảm giác nóng bỏng và đau buốt. Nếu đến thời điểm đó mà tác động nhiệt chấm dứt, thì vết bỏng như vậy được gọi là bỏng độ 1, nhẹ nhất. Đau đớn kéo dài trong vài giờ, sau đó hết đau. Sau một ngày hết đỏ.
Nếu tác động nhiệt kéo dài hơn và mạnh hơn, bỏng sẽ phát triển tiếp ở độ 2, trên vết bỏng xuất hiện các bong bóng phồng lên bằng lớp da trong và mỏng, vết phồng bong bóng chứa chất dịch vàng, trong của huyết tương. Đau rát và dài hơn, nếu tác động của nhiệt kết thúc ở đây, thì đau rát kéo dài từ một đến 2 ngày sau đó sẽ hết, vết phồng dần dần khô đi, tạo thành lớp biểu bì chết sau 8 đến 10 ngày, dưới lớp biểu bì chết là lớp da non mới hình thành. Đấy là kết quả rất tốt của vết thương, nếu như vết bỏng không bị nhiễm trùng, vết thương nhiễm trùng khi lốt phồng vỡ ra. Do lớp da quá mỏng và bị căng do sức ép của dịch, khi cọ xát với cơ thể và quần áo, sẽ rách vỡ, để lộ lớp biểu bì bị thương không có bảo vệ, và ngay tức khắc sẽ bị nhiễm trùng và mưng mủ vết thương. Để chữa lành vết thương thời gian sẽ không là 10 ngày mà sẽ kéo rất dài, hàng tháng sau đó, vết thương khi lành sẽ hình thành các vết sẹo lồi, các vết sẹo sẽ co kéo các lớp da và cơ, làm biến dạng khuôn mặt, gây khó khăn trong hoạt động của tay chân, cổ. Thậm chí ở những vị trí giao nhau của các bộ phận, sẹo sẽ co kéo da từ bên này sang phía bên kia, như cơ bụng với cơ bẹn, cơ cánh tay với cơ ngực.
Tác động nhiệt nếu tiếp tục sẽ hình thành bỏng độ 3, khi đó các lớp da sẽ bị chín, các tế bào bị chết và các protein sẽ bị cô đặc lại. Lớp da biểu bì cơ thể bị chết hoàn toàn, tổn thương đi sâu vào các cơ.
Khi cơ thể chịu tác động của ngọn lửa cường độ cao hoặc sắt nóng chảy, da người không những bị chín mà còn bị cháy, trở thành than. Cũng với da cháy sẽ làm tổn thương cả cơ, xương và các khớp. Người bị tổn thương ở cấp độ này là bị bỏng ở cấp độ 4.
Sự hồi phục và lành vết thương sau khi bị bỏng ở độ 3 và 4 rất chậm, 3 đến 4 tuần cho việc tách và bong các lớp da và cơ đã chết. Với xương việc tách chỗ tổn thương còn lâu hơn rất nhiều. Chỉ sau khi các lớp ra và xương chết đã tách rời hoàn toàn, quá trình phục hổi xảy ra rất chậm, kéo dài hàng năm với những vết sẹo rất sâu, để lại những hậu quả không thể khắc phục được về cơ, da và nếu bị thương ở tay, chân, các vết sẹo sẽ làm hạn chế rất nhiều khả năng làm việc của con người. Bỏng độ 4 có thể dẫn đến phải cắt bỏ 1 phần cơ thể.





Bỏng độ 1,2 và 3



Trong những trường hợp bị bỏng nặng, vết thương không thể tự phục hồi, vì tổn thương rất sâu và rộng. Cơ thể không có khả năng phục hồi. Để lấp đầy các vết thương sâu và rộng, phục hồi lại khả năng làm việc của các bộ phận, cần có sự can thiệp của phẫu thuật, và phẫu thuật thẩm mỹ. Chính xác là cắt chuyển các lớp da, với mục tiêu là xóa bỏ các vết sẹo làm biến dạng khuôn mặt, cơ thể. Phục hồi lại khả năng làm việc của các bộ phận sau hậu quả của vết bỏng gây lên. Phẫu thuật trong lĩnh vực này đã đạt được những thành tựu to lớn, có thề phục hồi được 60-70% tổn thương sau khi chữa lành vết thương.
Vết bỏng độ 3 và độ 4 rất dễ bị nhiễm trùng, các vết thương thường mưng mủ lớn do các tế bào chết. Vết thương trong khi lành dần cũng tạo nhiều mủ.
Súng phun lửa, napalm, photpho khi trúng người có thể gây bỏng đến độ 3, các loại khác như lựu đạn quang, chiếu xạ vũ khí hạt nhân, có thể gây bỏng độ 1 hoặc 2 có thể đến độ 3 tùy theo vị trí đứng có gần tâm nổ hay không và những chỗ không được quần áo che phủ.
Nói chung, trong trường hợp bị bỏng nặng thường không xác định cụ thể được bỏng độ mấy, thông thường trên một số khu vực vết bỏng ở mức độ 1 (da đỏ rực) , một số chỗ khác có vết phồng (bỏng độ 2) và trong một số chỗ có thể da bị chết (bỏng độ 3)



Vấn đề quan trọng là: vết bỏng nguy hiểm hay không phụ thuộc một phần vào độ bỏng, phần quan trọng hơn là diện tích da bị bỏng. Ví dụ, vết bỏng rất nặng độ 4 ở đầu chi có thể làm mất một phần cơ thể. Nhưng nếu vết bỏng ở ngực và bụng hoặc toàn bộ lưng, sẽ nguy hiểm cho tính mạng, dù chỉ là vết bỏng rộp phồng. Người bị thương có thể chết vì đau đớn, nếu như vết thương bao trùm toàn bộ cơ thể. Vết bỏng càng rộng, độ nguy hiểm càng cao, dù bỏng độ 3 nguy hiểm hơn nhiều bỏng độ 1. nhưng tại sao diện tích bỏng lại là nguy hiểm nhất?

1- Diện tích bỏng càng lớn, sự tổn thất của các dây thần kinh càng rộng, do đó mức độ đau đớn càng cao. Sự đau đớn càng lớn và càng kéo dài, càng gây nguy hiểm đến tính mạng, cơn đau dữ dội và kéo dài sẽ làm tê liệt hệ thần kinh và gây shock ngay cả đối với bỏng độ 1, nếu cơn đau qua đi nhanh trước khi phá hủy sự làm việc bình thường của hệ thần kinh, thì nguy hiểm tính mạng với độ bỏng 1 được đẩy lùi.
2- Nếu bỏng độ 2 và độ 3, khi ở độ bỏng này, vết thương có khả năng nhiễm trùng rất cao. Nếu mặt vết bỏng nhiễm vi khuẩn, trên cơ thể thương binh sẽ bị vết thương mưng mủ rất lớn. Vi khuẩn từ vết thương có thể thâm nhập vào máu và gây nhiễm độc toàn bộ cơ thể. Nếu vi khuẩn không nhiễm được vào máu, thì chất độc mà chúng tiết ra có thể thấm vào máu và đầu độc các cơ quan nội tạng. Trên vết thương xuất hiện lượng mủ lớn, mur được cấu thành từ huyết thanh và protein. Hàng ngày mất một lượng lớn các chất dinh dưỡng để nuôi cơ thể sẽ làm kiệt sức người bị thương. Sự kiệt quệ về thể chất cùng với khả năng nhiễm độc của cơ thể là mối đe dọa lớn đối với tính mạng người bị thương.
Napalm, chất cháy lỏng của súng phun lửa, photpho, khi rơi trên cơ thể dưới dạng giọt và mẩu chất cháy, chỉ có thể tạo được những vết cháy bỏng nhỏ, còn các mảng cháy bỏng lớn thường xảy ra khi cháy quân phục và không kịp cởi ra hay dập tắt lửa.
Chiếu xạ quang của vụ nổ hạt nhân có thể gây bỏng toàn thân mà không gây cháy quân phục, nếu quân phục mỏng..





Từ những nhận định trên khẳng định, sơ cứu chống nhiễm khuẩn vết bỏng vô cũng quan trọng, cơ thể khi bị bỏng vẫn có khả năng làm việc, đau đớn chỉ gây nguy hiểm khi vết bỏng quá rộng, nhưng nhiễm khuẩn với vết bỏng nhỏ có thể gây hoại tử và phải cắt bỏ từng phần, thông thường rất lâu lành vết thương. Bỏng trên diện rộng nếu nhiễm khuẩn có thể gây nguy hiểm tính mạng.
Chống nhiễm khuẩn phải được thực hiện ngay trên chiến trường, khi sơ cứu vết thương. Phương thức tốt nhất vẫn là băng bó vết thương bằng bông băng vô trùng trong gói cứu thương của mỗi cá nhân chiến sỹ. Rất cẩn thận không làm vỡ các lốt bỏng, không được chạm tay lên bề mặt vết bỏng, không được phép bôi bất cứ thứ gì lên bề mặt vết bỏng độ 2 và độ 3. Ngoại trừ các sản phẩm như thuốc mỡ chống bỏng và băng chống bỏng nếu có trong trang bị y tế của chiến sỹ quân y. Dùng nước để giảm đau vết bỏng và hạ nhiệt mặt da bị bỏng rất tôt, nhưng yêu cầu nước phải rất nhiều, 2-3 lít cho một vết bỏng không lớn để hạ nhiệt và làm sạch vết thương chống nhiễm khuẩn, yêu cầu phải là nước đun sôi và làm tiệt trùng, nếu nước không được làm sạch và tác động của tay chân sẽ gây nhiễm khuẩn rất nhanh vết bỏng. Vì vậy, trong điều kiện chiến trường, không có được nước tiệt trùng, và điều kiện có được thuốc mỡ chống bỏng, băng chống bỏng, phương án tốt nhất vẫn là băng bó vết thương và tiêm thuốc giảm đau. Không được phép sử dụng bất cứ bài thuốc hoặc cách chữa dân gian nào trong điều kiện chiến trường, vì sẽ gây nhiễm khuẩn nặng, thương binh dễ bị tử vong.
Vậy, trong điều kiện chiến trường, nếu không được trang bị thuốc mỡ chống bỏng và băng chống bỏng, để thực hiện sơ cứu bỏng phương án tối ưu là băng bó vết thương và tiêm thuốc giảm đau. Trong điều kiện bị thương ở phần đầu và mặt, cần đặt 1 miếng gạc bên má phải, một miếng bên má trái và băng lại toàn bộ khuôn mặt, để lại khe hở cho mắt và miệng. Nếu bị thương vào mắt, thì cần băng cả phần mắt để thương binh có cảm giác an toàn hơn, vì dù sao mắt cũng không được nhìn, sẽ xẩy ra nhiễm khuẩn khi thương binh theo thói quen sẽ cố gắng nhìn. Nếu có thuốc chống bỏng và băng chống bỏng, sau khi dập tắt lửa, tiêm thuốc giảm đau, để thương binh không bị sốc, sau đó dùng thuốc chống bỏng nhẹ nhàng bơm lên vết bỏng tạo thành một lớp màng mỏng, đặt băng chống bỏng lên và băng lại. Nếu không có đủ thuốc mỡ chống bỏng có thể dùng băng chống bỏng đặt lên, sau đó dùng băng tiệt trùng băng lại.



Khi bị bỏng trên thân người, còn quần áo, cần phải giải phóng quần áo ra khòi vùng bị thương trên diện rộng, đối với vết bỏng phải cắt toàn bộ trang phục khỏi bộ phận bị bỏng, không được xé hoặc cởi do quần áo có thể xát vào vết thương, những miếng vải dính vào vết bỏng không được kéo hoặc gỡ ra, do sẽ gây đau đơn và nhiễm trùng vết thương, ngoại trừ vải có dính chất cháy như napalm. Sau đó bôi thuốc, đặt băng chống bỏng và băng kín, rộng cả ra ngoài khu vực bị bỏng để tránh nhiễm khuẩn vết bỏng. Mùa rét cần nhanh chóng thực hiện động tác băng bó sơ cứu, sau đó quấn chăn hoặc vải để giữ nhiệt cơ thể, mùa hè có thể quấn vải mỏng, đợi đội tải thương đưa về quân y viện.







Trường hợp bị bỏng nhẹ, bỏng độ 1 không cần thiết phải băng lại do da không bị tổn thương lớn, nhưng cần làm giảm đau đớn bằng nước, dội thật nhiều nước sạch để giảm đau ( lấy từ bi đông nước đun sôi) sau 10 đến 15 phút xác định, nếu bỏng độ 2 ( thường xảy ra nhất) tạo thành phồng rộp thì tiến hành bôi, băng theo chỉ định.
Trường hợp bị bỏng do điện giật. Với hiện tượng bị điện giật, cơ thể ngoài sốc điện còn bị bỏng với nhiệt độ rất cao, bỏng thường ở độ 3 và 4. Vết bỏng điện thường không rộng nhưng rất sâu, có thể gây tổn thương đến tận xương, đặc thủ của vết thương do điện giật là đi kèm với bỏng thường là bị ngất, không thở được và suy tim đến độ không nghe được nhịp đập của tim, người bị thương tưởng như đã chết (Chết lâm sàng). Những trường hợp như vậy, biện pháp sơ cứu đầu tiên là làm nạn nhân hồi tỉnh.
Có khái niệm cho rằng, nếu người bị điện giật thì cần để người bị điện giật nằm xuống đất hoặc vùi xuống đất, họ sẽ hồi tỉnh, nhưng đó là những nhận định sai lầm.
Việc sơ cứu người bị nạn đầu tiên là phải thực hiện hô hấp nhân tạo. Đặt nạn nhân nằm trên mặt đất, hơi ngửa đầu và quay sang một bên, để làm được điều này, dưới lưng nạn nhân nên kê thêm một cái đệm nhỏ bằng vải hoặc quần áo quấn lại, cởi toàn bộ thắt lưng, khuy cổ áo để thoải mái khi thở. Chiến sỹ sơ cứu ngồi trên phía đầu đối phương, cầm chặt tay phía trên cổ tay, khi hô 1 thì nhấc tay lên, quay về phía mình từ trên xuống đến mặt đất, ngực nạn nhân sẽ bị nhấc lên và đó là hít vào, khi đếm 2 co hai tay nạn nhân gập khuỷu tay, đè lên ngực nạn nhân và nhấn mạnh, đó là thở ra.



Hô hấp nhân tạo 1



Hô hấp nhân tạo 2



Hô hấp nhân tạo rất tốn sức, nên có 2 người cùng làm. Không được làm nhanh và gấp, nhưng cần mạnh mẽ để có thể nghe thấy tiếng thở ở phổi. Khoảng 15 đến 18 nhịp trong một phút, hô hấp nhân tạo đôi khi rất lâu, có trường hợp chiến sỹ sống lại sau gần 2 giờ liên tục hô hấp nhân tạo. Do đó, phải thực hiện ngay khi phát hiện đồng đội bị mất hơi thở. Và gọi khẩn cấp quân y để có biện pháp mạnh cấp cứu kịp thời.



Hà hơi thổi ngạt và hô hấp nhân tạo





Trường hợp hà hơi thổi ngạt khi nạn nhân trong trạng thái tim ngừng đập, phổi không hoạt động (chết lâm sàng) cũng phải làm đồng thời với hô hấp nhân tạo, cần bịt mũi người bị nạn, có thể đặt một chiếc khăn mùi xoa lên miệng nạn nhân, chuẩn bị lấy hơi thật sâu và mạnh, sau đó khớp môi người cứu với miệng nạn nhân, thổi thật mạnh hơi của mình vào phổi người bị thương (tương đương với hít vào), sao cho phổi thương binh đầy không khí, sau đó dùng 2 tay đè lên ngực nạn nhân, và đẩy mạnh xuống, tạo sức nén cho phổi, đẩy không khí ra ngoài ( thở ra). Hô hấp nhân tạo làm đều khoảng 16 – 18 lần trong một phút cho đến khi phục hồi hoàn toàn hơi thở tự nhiên.





Chương 3

Chấn thương do sức ép, áp lực vùi lấp thời gian dài và sơ cứu khi bị sức ép

Bị sức ép, khái niệm bị thương sức ép được hình thành trong chiến tranh hiện đại, khi con người bị chấn thương toàn thân, toàn bộ cơ thể. Cũng dễ hiểu là không có một vật cứng nào có thể gây chấn thương con người toàn bộ. Sức ép là thể hiện chấn thương bằng một biện pháp đặc biệt, thường là sóng xung kích của một vụ nổ bom, đạn có công suất rất lớn ( từ vài trăm kg đến hàng nghìn kg) hoặc một vụ nổ hạt nhân. Thông thường, có rất ít người bị sức ép dưới nước, nhưng có rất nhiều trường hợp bị sức ép bằng sóng xung kích của vụ nổ bom, đạn.
Sóng xung kích của bom, đạn, bom nhiệt áp v..v. có khả năng gây chấn thương trong khoảng 100m trở lại, phụ thuộc vào khả năng công phá và phương thức nổ của bom, đạn. Vũ khí hạt nhân có khả năng gây chấn thương đến hàng nghìn m. Áp lực của bom đạn gây chấn thương trên toàn bộ cơ thể, nhưng mỗi bộ phận có sức chịu đựng khác nhau. Thông thường, chấn thương mạnh nhất sẽ là não bộ và hệ thần kinh, các bộ phận khác của cơ thể cũng sẽ bị ảnh hưởng tùy theo áp lực. Trong trường hợp áp lực quá lớn, các chấn thương sẽ gây dập nội tạng và gây chết người.
Khi bị chấn thương do sức ép, người chấn thương bị ngất, tùy theo sức ép có thể từ vài phút đến hàng giờ. Với sức ép lớn, người bị tổn thương từ ngất đến chết lâm sàng và chết. Trong trường hợp bị nhẹ, người bị sức ép có thể hồi phục và không có gì biểu hiện đặc biệt. Khi sức ép quá lớn sẽ có những tổn thường ngầm bên trong như chảy máu trong, nghẹt thở v.v... đôi khi là nguyên nhân của tổn thương sinh mạng.
Sơ cứu tổn thương sức ép bắt đầu khi người bị thương nằm trong trạng thái bị ngất, phải chuyển người bị ngất ra khỏi vị trị có thể gây tổn thương ngoại thể (các vật gây hại, như tường đổ, nhà cháy, trang thiết bị cháy nổ.v.v...) về vị trí an toàn, người bị sức ép nhẹ sẽ nhanh chóng tỉnh dậy, nếu người bị nặng hơn, cần có phương pháp cứu tỉnh. Kiểm tra toàn thân người bị sức ép xem có còn thở hay không, có vết thương nào gây chảy máu nhiều hay không. Nếu người bị chấn thương không thở được thì cần làm hô hấp nhân tạo. Cứu tỉnh xong người bị ngất, bước tiếp theo sẽ là kiểm tra y tế toàn bộ cơ thể, những người bị nặng hơn, có biểu hiện đau đớn nội tạng, mất khả năng chiến đấu công tác được chuyển về tuyến trên, những người nhẹ hơn sẽ phục hồi rất nhanh và lại có khả năng chiến đấu công tác.
Người bị nặng hơn không thở được cần hô hấp nhân tạo, trước hết cần kiểm tra xem họ có bị nghẹt thở bởi đất cát ở mũi miệng hay không để lau sạch đất cát. Nếu miệng bị nhét đầy đất, bóp miệng cho há miệng, đặt vào miệng thanh gỗ hoặc vật cứng để mở miệng, làm sạch miệng thương binh bằng cách móc đất ra và làm sạch bằng khăn hoặc mẩu băng. Sau đó làm hô hấp nhân tạo.
Khi bị chấn thương bởi sóng xung kích, thương binh có thể bị ném đi, quật ngã, ném văng vào những vật cứng khác, và bị chấn thương một số vị trí khác nhau trên cơ thể như gẫy xương, rách các mô cơ và có thể dẫn đến chấn thương sọ não. Người bị thương cần khẩn cấp đưa vào quân y viện để cấp cứu. Những vết thương cụ thể cần phải được sơ cứu ngay, băng bó, nẹp vết thương, ngăn chặn chảy máu trước khi đưa vào viện cấp cứu.
Bị sức ép, nếu không nặng quá thì thường có kết quả ổn định, những hậu quả như bị điếc, nói lắp hoặc những hậu quả khác sẽ được chữa trị nhanh và thương binh nhanh chóng phục hồi.



Một hiện tượng sức ép tiếp theo, đó là do bị đất vùi, nhà sập đổ hoặc các vật khác lên một phần hoặc toàn thân do các vụ nổ của đạn pháo, bom hoặc vụ nổ nguyên tử hoặc những thảm họa khác. Những chấn động sẽ làm sụp đổ các công trình xây dựng, phá hủy hầm ngầm, công sự. Vật liệu, đất đá sẽ đổ sập lên người và vùi lấp trong khu vực công trình đó.
Khi bị đè nén, vùi lấp lên toàn thân, người thường bị tổn thương đầu tiên là dồn nén vùng ngực, máu bị ép sẽ trào lên đầu và cổ, xuất hiện các mạch máu căng phồng dưới da. Áp lực máu quá lớn sẽ làm cho các mạch máu nhỏ bị vỡ, máu sẽ chảy ra dưới da và trào lên mũi, miệng. Phần đầu và mặt bị sưng, chuyển sang mầu xanh sẫm, mắt cũng bị rớm máu. Cảm giác bị nghẹn thở, ho và cơn đau trong ngực rất mạnh, nhưng nếu giải phóng khỏi bị nén thì hơi thở sẽ phục hồi, các mao mạch bị phá hủy sẽ dần dần hồi phục, trên da mất đi vết xanh chàm sau một thời gian, các mao mạch trên cổ và mặt sẽ chìm dần. Người bệnh sẽ lành dần sau đó mà không để lại nhiều di chứng đặc biệt, có gì thì chỉ là hậu quả sau này của tổn thương cơ thể.
Sơ cứu bắt đấu từ việc giải phóng người bị đè ra khỏi bị đè để không bị ép nữa. Đặt người bị thương ở tư thế ngồi hoặc nửa nằm nửa ngồi cho dễ thở. Trong điều kiện tốt, quân y có ngay thì có thể cho thở ô xy. Người bị thương sẽ phục hồi hơi thở rất nhanh.
Một trường hợp tiếp theo là phần mềm cơ thể như đùi, hông, phần chân. Ở những phần này, không có những bộ phận quan trọng của cơ thể, nhưng bị đè ép nhiều giờ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, càng bị đè ép lâu càng nguy hiểm với hậu quả khó khắc phục.
Nguy hiểm nằm ở chỗ khi các phần mềm bị đè ép lâu sẽ phá vỡ các kết nối cơ và làm tổn thương các mô cơ, sẽ sinh ra các chất độc đối với cơ thể, sau khi không bị đè ép nữa. Máu chảy qua chỗ bị tổn thương và mang chất độc vào cơ thể và gây nhiễm độc toàn bộ cơ thể, nếu không kịp thời chữa trị, sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng người bị thương.
Những bó cơ có rất nhiều ở chân, nên khi bị chèn đè, sẽ nguy hiểm hơn, phần của tay sẽ bớt nguy hiểm. Nếu tổn thương cơ đi kèm với tổn thương xương khớp, thì nguy hiểm càng ở mức độ cao hơn. Sơ cứu trước hết phải giải phóng những vật đang đè nén lên thương binh, khi tháo rỡ, bới hoặc xúc các vật, đất cát đang đè nén cần rất thận trong, không làm thay đổi tư thế vị trí nằm của thương binh để tránh tổn thương thêm và gây nhiễm độc cơ thể. Khi triển khai đưa thương binh ra khỏi vị trí cần đảm bảo đã kiểm tra kỹ những vết thương tổn, gẫy xương, đã bó nẹp cẩn thận để không gây tổn thương thêm các phần có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, đã băng cầm máu và tiêm giảm đau chống sốc. Sau khi cầm máu, thương binh cần được bổ xung nước để chống lả đi do mất nước, trong điều kiện thời bình có thể thực hiện truyền nước, huyết thanh để phục hồi một chút thể lực thương binh. Trong chiến trường, để phục hồi thể lực, có thể cho thương binh uống 1 cốc nước có pha 20-30 gam vodka và 1-2 thìa đường. Thương binh sẽ có chút thể lực đề di chuyển.

Nếu người bị sức ép không bị những tổn thương xương và phần mềm quá nặng, không mất máu thì sau khi gỡ bỏ các vật chèn đè lên cơ thể, có thể cảm thấy rất tốt, một số người còn có khả năng đi lại, xem xét trên cơ thể chỉ có vết xước, vết tím hoặc tụ máu mầu xanh trên da, nhưng trạng thái ấy kéo dài không lâu, một lúc sau người bị đè nén sẽ có cảm giác rất xấu, chân tay run rẩy, có cảm giác bất an, buồn bã chân tay, mặt xanh lét hoặc không ít người bị suy tim đột ngột. Sẽ xuất hiện các bệnh như đau thận, có thể đái ra máu. Đó là chất độc trong các mô cơ khi máu lưu thông đã hòa vào với máu, chảy xuống thận và tấn công thận. Do đó, trạng thái khỏe khoắn sau khi bị vùi lấp, bị sập hầm hoặc bị chèn ép không thể tin tưởng. Người bị vùi lấp sau khi cứu tỉnh phải được đặt nằm yên không làm bất cứ cử động nào đối với các bộ phận bị vùi lấp. Cần đặt người bị thương lên cáng sau khi băng bó những vết thương, những tổn thương như bị gẫy xương cần được nẹp. Trong trường hợp có thể nên chuyển đến quân y tiền phương để khám xét lại toàn bộ và tiến hành chữa trị vết thương.



Một số phương pháp di chuyển thương bệnh binh trên chiến trường và trong thảm họa



Pic 01



Pic02




Pic03



Pic04



Pic05



Pic 06 Cáng thương



Pic 07 Chuyển thương



Pic 08 Di chuyển thương binh







* * *

Trong chiến trường, mọi chuyện đều có thể xảy ra, những giải pháp đã nêu là rút ra từ thực tế kinh nghiệm của cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của nhân dân xô viết, đồng thời tổng kết các kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh khác. Chiến sỹ trên chiến trường có thể gặp mọi hoàn cảnh, thực hiện đúng những kinh nghiệm đã nêu có thể cứu được không những đồng đội, đồng thời có thể cứu được chính mình. Trong thời bình, những kinh nghiệm đó có thể giúp được nhân dân trong những thảm họa hoặc những bất ngờ xảy ra trong cuộc sống. Đó cũng là nhiệm vụ của chúng ta.

Bình luận

Mới hơn Cũ hơn