GIÁO TRÌNH GIẢNG DẠY VÕ THUẬT CAND

GIÁO TRÌNH GIẢNG DẠY VÕ THUẬT CAND


Một số kiến thức cơ bản 



Chương I 


Những vị trí hiểm yếu trên cơ thể con người 


I- Khái niệm: 


Vị trí hiểm yếu trên cơ thể là điểm tập trung của hệ thống trung ương thần kinh, những điểm quan trọng của các hệ thống tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, bài tiết và hệ thống xương, cơ, khớp tạo thành bộ máy hoạt động bảo đảm sự sống của con người. Tất cả những vùng, những vị trí hiểm yếu đó trên cơ thể con người nếu bị tác động một lực nhất định sẽ gây ra ở khu vực ấy sự tổn thương, làm giảm hoặc mất hẳn chức năng hoạt động của một bộ phận, tổ chức cơ thể, dẫn đến choáng ngất, tử thương. 


II- ý nghĩa tác dụng: 


Trong nghiên cứu tập luyện võ thuật việc nắm vững về chức năng cấu tạo cơ thể con người qua giải phẫu học và tâm sinh lý vận động là một yêu cầu cần thiết. Vì tập luyện võ thuật là một môn khoa học vận động, mọi động tác thực hành đều có liên quan mật thiết giữa các cơ quan, tổ chức trong cơ thể. 
Khi tập luyện có khối lượng vận động cao, động tác phức tạp nguy hiểm để gây tác động mất an toàn của các chức năng có cấu tạo phức tạp ấy. Ta biết dể có biện pháp đề phòng. 
Trong chiến đấu biết những vị trí hiểm yếu đó để tấn công đối phương bằng những đòn quyết định. 


III Các điểm yếu trên cơ thể 






A- Các điểm hiểm yếu trên cơ thể phía trước (hình 1) nhìn chính diện: 


Qua hình vẽ, nhìn chính diện từ trên xuống cơ thể con người có những vị trí hiểm yếu sau đây: 

1- Điểm giữa hai lông mày: (ấn đường) 
Nơi tiếp giáp giữa hai lông mày. Nếu dùng đòn đấm hoặc xỉa vào đúng vị trí sẽ làm rạn xương, chấn động bộ não dẫn đến choáng, đứt tĩnh mạch dẫn đến tử vong. 


2- Hai nhân cầu: 

Là con ngươi của mắt, dùng đòn đấm, xỉa, chọc thẳng vào con ngươi làm mất chức năng, hạn chế hoạt động của quan sát. 


3- Hai bên thái dương: 

Là điểm yếu của hộp xương não và xương mặt, dùng đòn đấm, chặt, đá làm chấn động não gây choáng ngất, nếu đánh mạnh dẫn đến tử vong. 


4- Hai động mạch chủ: 

Nằm ở hai bên cổ, sau dái tai. 
Dùng động tác chặt, bóp giật mạnh làm đứt mạch máu, gây chảy máu ngầm, hoặc chảy máu ra ngoài, làm choáng ngất, đánh mạnh gây tử vong. 


5- Điểm giữa sống mũi: (Xương sụn của mũi) 
Nếu đánh mạnh bằng động tác đấm, chặt làm chảy máu mũi, gây choáng ngất. 


6- Điểm giữa cằm

Điểm trọng tâm của cơ thể, dùng động tác đấm, chặt, đá làm vỡ xương hàm, đứt lưỡi, đánh mạnh gây choáng, ngất dẫn đến tử vong. 


7- Điểm giữa cổ họng: (Yết hầu) 
Là thực quản khí quản, dùng động tác chặt, đấm đá gây choáng, đánh mạnh gây tử vong. 


8- Hai hõm vai: (bên trái, bên phải) 

Là hai góc sau, tiếp giáp gần tim và phổi, dùng mũi nhọn đâm gây choáng ngất, dẫn đến tử vong. 


9- Khu vực tim: (dưới vú trái) 

Dùng dao đâm đấm, chặt, đá gây tử vong nhanh chóng


10- Khu vực đầu xương mũi kiếm: (vùng mặt trời) 

Nơi tiếp giáp khoang ngực, khoang bụng, dùng đòn đấm, đá, đạp gây choáng, nếu đánh mạnh gây tử vong. 


11- Khu vực bàng quang: (điểm giữa bụng) 

Dùng đòn đấm, đá, đạp làm rối đứt ruột - động mạch gây tử vong. 


12- Hai dịch hoàn: (Nam) âm hộ (nữ) 

Dùng đòn đá, đấm, đánh mạnh gây choáng ngất đến tử vong. 


B- Những điểm hiểm yếu phía sau cơ thể nhìn chính diện (hình 2) 


Phía sau cơ thể có những điểm hiểm yếu chính sau đây: 


1- Điểm chính giữa đỉnh đầu 

Là nơi trung tâm bộ não, nếu dùng đòn chặt, đấm làm chấn động não gây tử vong nhanh chóng. 


2- Khu vực phía sau gáy: 

Là vùng tiểu não, gọi là trung khu sự sống. Nếu dùng đòn đấm, chặt sẽ gây choáng dẫn đến tử vong nhanh chóng. 


3- Khu vực ngang thắt lưng: 
Vùng cầu thận, gan, mật nếu dùng đòn đấm, đá, đạp mạnh gây choáng ngất lâu dài, có thể gây tử vong. 


4- Sống lưng: 
Điểm tiếp khớp xương đùi, xương chậu và xương sống, là điểm yếu của trục đứng cơ thể. 


5- Điểm cuối xương sống: (đốt cùng). 

Dùng mũi giầy đá mạnh, chặt mạnh gây choáng, ảnh hưởng lâu dài sự sống có thể tê liệt toàn thân. 


6- Điểm dưới cùng bắp cẳng chân: 
Nếu dùng động tác đá, đạp, dụng cụ đánh mất thăng bằng, gãy xương có thể choáng ngất. 


7- Điểm các khớp: 

+ Tất cả các đầu khớp ở mình và tứ chi của con người điểm tiếp khớp của các bộ phận lớn nhỏ, đều là những điểm yếu nhất cơ thể. Trong võ thuật dùng các đòn đánh bắt, đánh vào khớp để bắt khoá như khớp cổ, khớp vai, khớp khuỷu tay, cổ tay, cổ chân.....Chủ yếu làm cho đối phương mất sức kháng cự, tê liệt một bộ phận cơ thể để nhanh chóng thực hiện các đòn tiếp theo. 

+ Ngoài những vùng hiểm yếu nói trên còn những chỗ phụ, gọi là bằng huyệt, trong thực tế những điểm hiểm yếu thường ấy nếu bị một hai đòn tấn công mạnh cũng gây choáng ngất . 

+ Tóm lại : những điểm hiểm yếu trên cơ thể con người chính là những mục tiêu tấn công 

trong sử dụng võ thuật tuỳ theo mức độ, tính chất của từng vụ việc, mà sử dụng hợp lý đúng yêu cầu 

nghiệp vụ của ngành nhằm giành thắng lợi nhanh nhất trong thực tế chiến đấu . 

Mặt khác trong nghiên cứu luyện tập võ thuật cũng phải biết và nắm vững những vị trí 

xung yếu để tập luyện động tác thực hành cho đúng kỹ thuật đòn. Đồng thời biết để tự bảo vệ mình an toàn trong luyện tập. 

Song điều cơ bản là trong chiến đấu bằng võ thuật có đánh nhanh, đánh đúng vào những 
vùng xung yếu trên cơ thể đối phương hay không, đó mới là yếu tố quyết định thắng lợi. 

Là bí quyết của nghề nghiệp mang tính đặc thù của võ thuật, do đó phải tuyệt đối giữ bí mật lối đánh, cách đánh và điểm đánh trong chiến đấu mới có hiệu quả cao. 


Chương II

Các vũ khí tấn công của cơ thể


Cách nắm tay để thực hiện đòn đấm

Đầu tiên phải duỗi thẳng bàn tay với 4 ngón khép chặt và ngón cái chĩa thẳng lên Sau đó từ từ cuộn chặt 4 ngón tay kia vào lòng bàn tay, bắt đầu từ đốt xương thứ 2 rồi tiếp tục co và gập đốt xương thứ 3, để móng tay của 4 ngón tay của 4 ngón cuốn xếp chặt vào trong lòng bàn tay.

Sau cùng gập ngón cái và đè chặt lên đốt xương thứ 2 của ngón trỏ và ngón giữa .

Thực hiện tuần tự theo đúng các chỉ dẫn trên là đã tạo ra được một nắm tay đúng cách của

môn võ.

Hình 2: a, b, c, d

* Lưng nắm đấm

Lưng nắm đấm là phần được giới hạn khoanh tròn trong hình 3, thường được sử dụng để tấn công vào mặt, xương sườn hoặc chặn đỡ các đòn tấn công của đối phương.




Hình 3

* Cạnh ngoài nắm đấm

Cạnh ngoài nắm đấm có thể được sử dụng để tấn công vào đầu, khớp xương, cùi chỏ, xương sườn và những vị trí rắn chắc khác của đối phương (Hình 4).



Hình 4 Hình 5

* Đốt xương thứ 2 của ngón trỏ

Đốt xương thứ 2 của ngón trỏ thường được ding để tấn công vào vùng thái dương, đầu sống mũi (điểm giữa 2 hốc mắt) hoặc những yếu huyệt (Hình 5).

* Đốt xương thứ 2 của ngón giữa

Cũng được sử dụng tương tự như đốt xương thứ 2 của ngón trỏ (Hình 6).


Hình 6 Hình 7

* Độc chỉ

Là ngón tay trỏ thường được sử dụng để xỉa vào mắt và mỏ ác của đối phương (Hình 7).

* Song chỉ

Là ngón trỏ và ngón giữa được xoè ra theo hình chữ V để đồng thời tấn công vào hai mắt của đối phương (Hình 8).


Hình 8 Hình 9

* Lòng bàn tay

Lòng bàn tay gồm toàn bộ phần được giới hạn khoanh tròn trong hình 9 thường được sử dụng để vỗ mạnh vào vùng tai làm rách, thủng màng nhĩ của đối phương.



Hình 10 Hình 11

* Hổ khẩu

Hổ khẩu là toàn bộ thiết diện giữa cạnh trong của ngón cái và cạnh ngoài của ngón trỏ thường được dùng để đánh thẳng vào cổ hoặc yếu hầu của đối phương (Hình 10).

* Tứ chỉ

Tứ chỉ là đầu của 4 ngón tay khép chặt thường được sử dụng để đâm, xỉa thẳng vào mỏ ác hoặc

xương sườn của đối phương (Hình 11).


Hình 12 Hình 13

* Cạnh ngoài bàn tay

Khi xoè thẳng bàn tay ra phần cạnh ngoài bàn tay sẽ được sử dụng như một lưỡi dao để

chặt vào cổ, xương sườn, vùng thái dương hoặc để đỡ gạt đòn tấn công của đối phương (H12).

* Sống bàn tay

Sống bàn tay thường được dùng để đánh hất vào mặt hoặc xương sườn của đối phương (H13).



Hình 14 Hình 15

* Mu bàn tay

Mu bàn tay thường được dùng để tấn công vào mạng sườn hoặc ngăn cản các đòn tấn công của đối phương (H14).

* Mặt trên cổ tay

Bộ vị này thường được sử dụng để ngăn đỡ đòn và bất ngờ tấn công đối phương (H15).


Hình 16 Hình 17

* Cườm tay

Cườm tay thường được sử dụng để đánh vào mặt, cằm, mũi, mỏ ác¼. của đối phương (H16).

* Cổ tay trong

Thường được dùng để đỡ gạt một đòn tấn công (H17).

* Cạnh ngoài cổ tay



Cạnh ngoài cổ tay cũng thường được dùng để đỡ gạt các đòn tấn công hạơc đánh vào xương quai

xanh của đối phương. (H18).


Hình 18 Hình 19

* Mặt trên cẳng tay

Là phần được giới hạn trong hình 19 thường được dùng để ngăn đỡ các đòn tấn công của đối phương, đặc biệt là ở phần tiếp giáp gần cổ tay (Hình 19).


Hình 20 Hình 21

* Cùi chỏ

Thường được sử dụng để tấn công vào cằm, ngực, mỏ ác, xương sườn hoặc chặn đỡ các đòn tấn công của đối phương (H20).

* Mu bàn chân

Bộ vị này thường được sử dụng trong các đòn đá về trước vào háng của đối phương (H21)

* Cạnh ngoài bàn chân

Cạnh ngoài bàn chân thường được dùng để tấn công vào hàm, nách, mỏ ác của đối phương (H22).

* Lòng bàn chân

Thường được dùng để đá, đạp vào ngực, mỏ ác của đối phương (H23).


Hình 22 Hình 23

* Gót chân

Được dùng trong các đòn đá hất về trước hoặc sau để tấn công vào hàm, xương sườn và vùng ngực, bụng của đối phương (H23).

* ức bàn chân

Khi muốn sử dụng ức bàn chân để tấn công đối phương thì cả 5 đầu ngón chân đều phải bẻ ngược lên trên. Bộ vị này thường được dùng trong các đòn đá về trước, hoặc đá vòng cầu để tấn công vào mặt, hàm, mỏ ác, xương sườn và vùng háng của đối phương (H24).



Hình 24 Hình 25

* Đầu gối

Đầu gối thường được sử dụng để tấn công vào mặt, mỏ ác và háng của đối phương (H25). 

Phần II

Các động tác kỹ thuật cơ bản trong võ thuật

Chương I


Thế đứng và di chuyển



I- ý nghĩa tác dụng

Bất cứ môn võ thuật nào cũng đều có thế đứng (hay gọi là thế võ). Thế đứng là động tác kỹ thuật đầu tiên, là cái gốc làm nền tảng cho việc thực hiện các động tác kỹ thuật, chiến thuật được thuận lợi, có thế đứng vững chắc mới ra được những đòn quyết định, tạo thế áp đảo đối phương. Kết hợp với di chuyển trong võ thuật là một hình thức làm thay đổi vị trí chiến đấu như lúc tiến, lúc lùi, sang bên phải hoặc sang bên trái để tạo thế thuận lợi trong tấn công cũng như phòng ngự. Do đó trong tập luyện phải kiên trì đứng đúng cơ bản của từng động tác kết hợp với di chuyển linh hoạt mới tạo ra được phản xạ nhanh nhạy, cơ động từ đó xây dựng cho mình một bản lĩnh vững vàng, tự tin trong công tác và chiến đấu.



II- Các thế đứng

1- Thế đứng chân trước chân sau tư thế cao

Đang đứng nghiêm, chân trái bước lên theo hướng mũi bàn chân trái một bước rộng khoảng

bằng vai. Hai mũi bàn chân làm trụ nâng hai gót chân lên và xoay sang trái khoảng 10cm lúc này hai bàn chân gần song song với nhau. Hai gối chùng đều, trọng lượng toàn thân rơi vào hai chân (chủ yếu ở 3/4 phía mũi bàn chân).

Hai tay đưa lên phía trước thành thế chuẩn bị, nắm đấm của tay phải ở trước ngực và dưới cằm (cách cằm và ngực khoảng 10cm) nắm đấm hơi úp và hướng sang trái.

Nắm đấm của tay trái đưa lên gần ngang với bả vai trái, cách đầu bả vai trái khoảng 35- 40cm, nắm đấm hơi úp và hướng sang phải. Thân người phía trên hơi vặn sang phải và gập về trước, cằm khép, bụng thót, mắt quan sát mục tiêu (Hình 26).

+ Điểm trọng tâm: Đứng vững chắc, thoải mái, cơ động. + Điểm chú ý: Không lên gân cơ cứng, gò bó.

2- Đứng hai chân ngang tư thế cao.

Đang đứng nghiêm, chân trái bước sang trái một bước khoảng rộng bằng vai. Hai mũi chân

làm trụ nâng hai gót chân lên và xoay sang hai bên, hai bàn chân gần song song với nhau.

Hai gối chùng đều, trọng lượng toàn thân rơi đều vào hai chân (chủ yếu 3/4 phía mũi bàn chân) thân người phía trên xoay vặn từ trái sang phải khoảng 15-20cm. Hai tay đưa lên thành thế chuẩn bị giống tư thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, bụng thót, cằm khép, mắt quan sát mục tiêu (hình 27).

+ Điểm trọng tâm, điểm chú ý giống như thế đứng chân trước chân sau tư thế cao.



Hình 26 Hình 27

3- Đứng hai chân ngang tư thế thấp.

Đang đứng nghiêm, chân trái bước sang trái một bước khoảng rộng hơn vai. Hai mũi chân làm trụ nâng hai gót chân và xoay sang hai bên, hai bàn chân gần song song với nhau, hai gối chùng thấp, gần như vuông góc ở gối (phía sau).

Trọng lượng toàn thân rơi đều vào hai chân (chủ yếu 3/4 phía mũi bàn chân). Thân người phía trên xoay vặn từ trái sang phải khoảng 15-20cm.

Hai tay đưa lên thành thế chuẩn bị giống thế đứng chân trước chân sau tư thế cao. Bụng thót, cằm khép, mắt quan sát mục tiêu (hình 28).

+ Điểm trọng tâm, điểm chú ý: Giống như thế đứng chân trước chân sau tư thế cao.



4- Đứng chân trước chân sau tư thế thấp.

Đang đứng nghiêm, chân trái bước lên theo hướng mũi bàn chân trái một bước khoảng rộng hơn vai. Hai mũi bàn chân làm trụ, nânghai gót chân lên và xoay sang trái khoảng 8cm. Hai bàn chân gần như song song với nhau, hai gối chùng thấp giữa đùi và cẳng chân gần như tạo thành vuông góc ở gối phía sau, trọng lượng toàn thân rơi vào hai chân (chủ yếu 3/4 phía mũi bàn chân). Hai tay đưa lên thành thế chuẩn bị giống như thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, bụng thót cằm khép mắt quan sát mục tiêu (hình 29).

+ Điểm trọng tâm, điểm chú ý: Giống như thế đứng chân trước chân sau tư thế cao.

Hình 28 Hình 29

5- Đứng trong quan hệ:

Trong khi làm nhiệm vụ, nếu tiếp xúc với đối tượng có nghi vấn, thì tư thế đứng nghiêm chuyển sang thế đứng trong quan hệ - giống như thế đứng chân trước chân sau tư thế cao - chỉ khác hai tay nắm hờ tự nhiên để xuôi xuống theo nẹp quần sát đùi, tư thế thoải mái, mắt nhìn thẳng luôn quan sát đối tượng (hình 30).

+ Chú ý: Về ý thức phải luôn luôn cảnh giác ở thế sẵn sàng chiến đấu.


Hình 30

III- Di chuyển: 1- Tiến.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, khi tiến ta dùng sức đẩy của chân phải kết hợp với sức bật của chân trái, bật lướt chân trái lên một bước, đồng thời chân phải lướt theo một bước bằng khoảng cách của chân trái về thế đứng ban đầu, mắt luôn nhìn thẳng, quan sát mục tiêu khi di chuyển, 


hai chân luôn luôn chùng để có sức bật nhanh.

+ Chú ý: Trong di chuyển thân người và hai tay vẫn giữ nguyên thế đứng chan trước chân sau tư thế cao.

2- Lùi:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, khi di chuyển lùi chân phải bật về sau một bước

đồng thời chân trái rê lướt về theo thành thế đứng ban đầu, mắt luôn nhìn thẳng quan sát mục tiêu.

3- Sang trái.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, chân trái bật lướt sang trái một bước. Đồng thời

chân phải bật lướt theo một bước về vị trí chân trước chân sau tư thế cao, mắt luôn quan sát mục tiêu. 

4- Sang phải.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, di chuyển sang phải ta bật lướt chân phải sang phải

một bước đồng thời chân trái rê lướt theo một bước về vị trí ban đầu. Mắt luôn quan sát mục tiêu.

5- Quay sau.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, khi quay sau, chân trái làm trụ. Chân phải bước lên

một bước dài qua bên phía mũi bàn chân trái, hai mũi chân làm trụ xoay người từ phải qua trái về sau

180o thành thế đứng ban đầu.

+ Chú ý: Trong các động tác di chuyển và thay đổi hướng luôn thả lỏng cơ thể, không gò bó, hai tay vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu.

Chương II

Các động tác kỹ thuật đánh bằng tay



I- ý nghĩa tác dụng

Trong các trường phái võ, dù ở môn phái nào người ta cũng nghiên cứu, tập luyện, sử dụng các động tác đánh bằng tay. Vì sử dụng đôi cánh tay đánh được nhiều đòn, nhiều cách đánh khác nhau rất lợi hại trong tấn công cũng như phòng ngự.

Các động tác kỹ thuật tần công bằng tay khá nguy hiểm khi biết kết hợp chặt chẽ giữa tấn công và phòng ngự rất cần thiết trong thực tế chiến đấu. Do đó trong tập luyện các động tác kỹ thuật đánh của tay, phải kiên trì, khắc phục mệt mỏi để thực hiện được hiệu quả của các đòn đánh.

ở giáo trình này, chúng ta chỉ nghiên cứu tập luyện 1 số kỹ thuật đánh thông dụng nhất áp dụng trong chiến đấu có hiệu quả cao, phù hợp với tính chất chiến đấu, công tác của lực lượng Công an nhân dân.



II- Động tác kỹ thuật.

1- Cách nắm tay để đấm.

Bàn tay mở tự nhiên, bốn ngón tay khép kín cuộn tròn vào lòng bàn tay, ngón cái đặt ở đốt thứ

hai của ngón trỏ, nắm chặt năm ngón tay lại thành nắm đấm của võ thuật.

2- Tay phải, tay trái đấm thẳng.

a- Tay phải đấm thẳng.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, kết hợp lực của toàn thân, chủ yếu là sức bật của bả

vai và cánh tay phải phóng thẳng nắm đấm từ trong ra theo một đường thẳng tới điểm đánh thì dừng lại, lúc này cánh tay phải song song với mặt đất, nắm đấm úp xuống đất, do phối hợp lực toàn thân vào đòn đấm nên 1/2 thân người phía trên được xoay từ phải sang trái, chân trái chùng chịu trọng lượng toàn thân nhiều hơn chân phải, chân phải gối hơi khuỵu, gót kiễng, tay phải đấm ra, tay trái thu về vị trí chuẩn bị dưới cằm.

Điểm chạm là toàn bộ mặt phẳng của nắm đấm. Đấm xong nhanh chóng rút tay về vị trí ban đầu (H31).


Hình 31 Hình 32



+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải.

+ Điểm chú ý: Khi đấm không lấy đà, đám dúi hoặc đấm sang phải, sang trái.

b- Tay trái đấm thẳng.

Từ tư thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, nắm tay trái ở phía ngoài, được thu về khoảng

10-15cm. Kết hơp lực toàn thân chủ yếu là sức gập cơ bụng, sức duỗi của cơ lưng, sức bật ủa bả vai và cánh tay trái phóng thẳng nắm đấm từ trong ra theo một đường thẳng tới điểm đánh thì dừng lại. Cánh tay trái song song với mặt đất, nắm tay úp, do chuyển động của quả đấm nên người hơi gập về trước và sang phải.

Trọng lượng toàn thân dồn nhiều vào chân trái. Hai gối chùng đều, tay trái đấm thẳng, tay phải vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu. Điểm chạm là toàn bộ mặt phẳng của nắm đấm (H32) đấm xong rút tay về vị trí ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái. + Điểm chú ý: Giống như tay phải đấm thẳng.

3- Tay phải, tay trái đấm ngang:

a- Tay phải đấm ngang:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, nắm đấm tay phải ở dưới cằm được đưa ra ngang với vai phải, kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải phóng quả đấm xuyên chéo từ trong ra, từ phải sang trái từ dưới đi lên đến trước mặt thì dừng lại, nắm đấm cách cằm

khoảng 35-40cm. Cánh tay ngoài hơi chếch so với mặt phẳng ngang một góc khoảng 30o. Do chuyển 

động của đòn đấm nên 1/2 thân người phía trên được xoay từ phải sang trái, chân trái chùng chịu trọng lượng toàn thân nhiều hơn chân phải, chân phải gối khuỵu gót kiễng. Lực tập trung chủ yếu vào sức bật của bả vai và cánh tay phải, tay phải đấm ra tay trái thu về chuẩn bị dưới cằm (Hình 33). Đấm xong nhanh chóng rút tay về vị trí ban đầu.


Hình 33 Hình 34



+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải.



+ Điểm chú ý: Không mở tay quá rộng, đấm mất đà, đấm dúi.

b- Tay trái đấm ngang:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, nắm tay trái ở phía ngoài được thu về khoảng 10- 15cm và hơi đưa sang trái, kết hợp lực toàn thân, chủ yếu là sức gập cơ bụng, sức bật của bả vai và cánh tay trái bật phóng thẳng đòn đấm xuyên chéo từ trái qua phải từ dưới đi lên, từ trong ra đến trước mặt thì dừng lại nắm đấm cách cằm khoảng35-40cm hai gối chùng đều. Trọng lượng toàn thân hơi dồn nhiều về phía chân trái. Điểm chạm là mặt phẳng của nắm đấm. Tay phải vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu (H34). Đấm xong rút tay về vị trí ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái. + Điểm chú ý: Giống như tay phải đấm ngang.

4- Tay phải, tay trái đấm móc.

a- Tay phải đấm móc:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, nắm đấm tay phải ở dưới cằm được hạ thấp 10- 15cm và lật ngửa nắm đấm. Kết hợp lực toàn thân, chủ yếu là sức bật bả vai và cánh tay phải phóng quả đấm từ trong ra, từ dưới lên vào điểm đánh đến ngang cằm và cách cằm khoảng 30-35cm thì dừng lại do chuyển động của quả đấm nên 1/2 thân người phía trên được xoay từ phải qua trái, chân trái chùng chịu trọng lượng toàn thân nhiều hơn chân phải, chân phải gối khuỵu gót kiễng, điểm chạm là điểm cuối của đốt thứ 3 bốn ngón tay nắm chặt lại, tay phải đấm ra tay trái thu về chuẩn bị trước ngực, miệng ngậm, cằm khép, mắt nhìn thẳng quan sát mục tiêu (H35). Đấm xong nhanh chóng rút tay về thế chuẩn bị ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân, quá trình xoay người đồng thời hạ thấp và lật ngửa nắm đấm, sức bật chủ yếu là bả vai và cánh tay phải.


Hình 35 Hình 36



b- Tay trái đấm móc:



Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, nắm tay trái ở phía ngoài được thu về so với vị trí ban đầu khoảng 10-15cm đồng thời hạ thấp nắm đấm khoảng 10cm và lật ngửa nắm đấm. Kết hợp lực của toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái phóng nắm đấm từ dưới lên từ trong ra vào điểm đánh đến ngang cằm và cách cằm khoảng 30-35cm, hai gối chùng đều, trọng lượng toàn thân hơi dồn nhiêu vào chân trái. Điểm chạm giống như tay phải, tay trái đấm móc, tay phải vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu, miệng ngậm, cằm khép, mắt quan sát mục tiêu (H36). Đấm xong rút tay về vị trí chuẩn bị ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Tay trái thu về và hạ thấp, kết hơp lực toànthân chủ yếu là sức bật của bả

vai và cánh tay trái

+ Điểm chú ý: Giống như tay phải đấm móc.

5- Tay phải, tay trái chặt vát thuận

a) Tay phải chặt vát thuận.

Từ tư thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, bàn tay phải ở dưới cằm được đưa ra ngang và cách tai khoảng 10-15cm khuỷu tay phải được nâng lên ngang vai, bàn tay mở tự nhiên. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải chặt vát chéo bàn tay từ phải qua trái từ trong ra ngoài từ trên chặt xuống vào cổ đối phương. Cạnh bàn tay chặt ra cách cằm khoảng 35-40cm, cánh tay cong tự nhiên, do chuyển động của đường chặt nên 1/2 thân người phía trên được xoay từ phải qua trái, gối trái chùng chịu trọng lượng toàn thân nhiều hơn chân phải, chân phải gối khuỵu, gót kiễng, điểm chạm là toàn bộ cạnh bàn tay phải, tay phải chặt ra, tay trái thu về chuẩn bị trước ngực, miệng ngậm, cằm khép, mắt nhìn thẳng (H37). Chặt xong nhanh chóng rút tay về tư thế chuẩn bị ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật dằn của bả vai và cánh tay phải. + Điểm chú ý: Không đưa tay về quá sâu để lấy đà, không chặt mất đà sang bên trái.


Hình 37 Hình 38

b) Tay trái chặt vát thuận:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, nắm tay trái ở phía ngoài được thu về khoảng 15- 20cm và đưa sang trái, kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái chặt vát cạnh bàn tay từ trái sang phải vào điểm chặt, điểm đánh và khoảng cách giống tay phải. Hai gối chùng đều, trọng lượng toàn thân hơi dồn về phía chân trái, tay trái chặt ra, tay phải vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu, miệng ngậm, cằm khép, mắt nhìn thẳng (H38). Chặt xong nhanh chóng rút tay về tư thế ban đầu. 

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân, chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái. + Điểm chú ý: Giống như tay phải.

6- Tay phải, tay trái chặt sườn thuận:

a) Tay phải chặt sườn thuận:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, nắm tay phải ở dưới cằm được đưa ra ngang vai phải, kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải chặt vát một đường từ phải sang trái từ trong ra ngoài từ trên xuống vào điểm chặt là sườn của đối phương , điểm chạm là cạnh bàn tay phải. Do chuyển động của đường chặt nên 1/2 thân người phía trên được xoay từ phải sang trái, gối trái chùng thấp, gối phải khuỵu, gót kiễng. Tay phải chặt ra tay trái thu về chuẩn bị trước ngực, miệng ngậm, cằm khép, mắt nhìn thẳng (H39). Chặt xong, nhanh chóng rút tay về thế chuẩn bị ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Giống như chặt vát tay phải. + Điểm chú ý: Giống như chặt vát thuận tay phải.



Hình 39 Hình 40

b) Tay trái chặt sườn thuận:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tay trái chặt sườn thuận toàn bộ kỹ thuật, kết hợp lực giống như tay phải chặt vát thuận chỉ khác là hai gối chùng thấp, điểm đánh là sườn đối phương, tay phải vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu (H40). Chặt xong nhanh chóng rút tay về tư thế ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Giống như chặt vát thuận tay phải. + Điểm chú ý: Giống như chặt vát thuận tay trái.

7- Tay phải, tay trái chặt vát nghịch

a) Tay phải chặt vát nghịch:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, nắm tay phải được đưa lên ngang tai phải. Kết hợp lực toàn thân, chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải, chặt một đường từ trong ra, từ trên xuống, từ trái sang phải vào mục tiêu là cổ bên phải đối phương. Nắm đấm đi được 1/3 quãng đường thì bốn ngón tay mở, các ngón tay khép kín, đIểm chạm là bàn tay phải. Do chuyển động của đường chặt nên 1/2 thân người phía trên xoay từ phải sang trái, chân trái chùng để chịu trọng lượng toàn thân nhiều hơn chân phải, chân phải gối khuỵu, gót kiễng, tay phải chặt, tay trái thu về chuẩn bị trước ngực, cằm khép, bụng thót, mắt liếc nhìn đIểm chặt (H41). Chặt xong nhanh chóng rút tay về thế chuẩn bị ban đầu.



ĐIểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân, chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải.


Hình 41 Hình 42

b) Tay trái chặt vát nghịch:

Từ tư thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tay trái ở phía ngoài được thu về khoảng 15-20cm ngang vai tráI kết hợp lực toàn thân, chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái chặt vát một đường từ trong ra, từ trên xuống, từ phải sang tráI vào cổ bên phải đối phương, bàn tay mở tự nhiên, các ngón tay khép kín, đIểm chạm là cạnh bàn tay tráI, tay trái chặt, tay phải giữ nguyên vị trí ban đầu (H42). Hai chân chùng đều, trọng lượng toàn thân hơi dồn nhiều vào chân trái, chặt xong rút tay về tư thế chuẩn bị ban đầu.

+ ĐIểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái.

8) Tay phải, tay trái chặt sườn nghịch.

a) Tay phải chặt sườn nghịch:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao. Tay phải chặt sườn nghịch kết hợp lực và kỹ thuật chặt giống như chặt vát nghịch chi khác là hai gối chùng thấp, đIểm chặt là vào sườn bên phải đối phương (H43). Chặt xong rút tay về thế chuẩn bị ban đầu.

+ ĐIểm trọng tâm, kết hợp lực với chùng gối để hạ thấp người chặt đúng đIểm đánh.


Hình 43 Hình 44

b) Tay trái chặt sườn nghịch:

Từ thế đứmg chân trước chân sau tư thế cao, tay trái chặt sườn nghịch. Kết hợp lực và kỹ thuật chặt giống như chặt vát nghịch tay trái chỉ khác là hai gối chùng thấp. Chặt vào sườn bên trái đối phương. Chặt xong rút tay về thế chuẩn bị ban đầu (H44).

ĐIểm trọng tâm: Giống như chặt vát nghịch.

9) Tay phải, tay trái xỉa.

a) Tay phải xỉa:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, nắm tay phải ở dưới cằm. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải, bật phóng một đường từ trong ra vào đIểm xỉa là bụng, ngực, cổ đối phương, bàn tay đi được 2/3 quãng đường thì 5 ngón tay duỗi thẳng khép kín, đIểm chạm là đầu của bốn ngón tay. Do chuyển động của đường xỉa nên 1/2 thân người phía trên xoay từ phải sang trái, chân trái chùng chịu trọng lượng toàn thân nhiều hơn chân phải, chân phải gối khuỵu, gót kiễng, tay phải xỉa ra tay trái thu về thế chuẩn bị (H45). Xỉa xong, nhanh chóng rút tay về tư thế chuẩn bị.

+ ĐIểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân nhưng chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải. Nắm tay phóng ra được 2/3 quãng đường thì năm ngón tay duỗi thẳng, khép kín.

+ ĐIểm chú ý: Không mở tay trước.

b) Tay trái xỉa:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tay trái xỉa toàn bộ kỹ thuật và kết hợp lực giống như tay phải xỉa, chỉ khác tay trái ở phía ngoài được thu về so với vị trí ban đầu khoảng 10- 15cm. ĐIểm đánh, đIểm chạm giống như tay phải xỉa. Miệng ngậm, cằm khép, mắt nhìn thẳng (H46). Xỉa xong nhanh chóng rút tay về tư thế ban đầu.

+ ĐIểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái, nắm tay phóng ra được 2/3 quãng đường thì năm ngón tay duỗi thẳng, khép kín.

+ ĐIểm chú ý: Giống như tay phải.


Hình 45 Hình 46

10) Tay phải, tay trái đánh khuyu ngang về trước.

a) Tay phải đánh khuỷu ngang về trước:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, chân phải bước thẳng lên 1 bước khoảng rộng hơn vai, đồng thời cùng lúc khuỷu tay phải được nâng lên gần ngang vai. Kết hợp toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phảI đánh khuỷu tay từ phải sang tráI vào đIểm đánh là cằm, cổ đối phương. Do chuyển động của đòn đánh nên người xoay từ phải sang trái vào hơi lao về trước, trọng lượng toàn thân dồn nhiều vào chân phải, đIểm chạm là cạnh ngoài của cánh tay khi gập lại (phía gần khuỷu tay). Tay phải đánh khuỷu, tay trái thu về chuẩn bị trước ngực, mắt liếc nhìn đIểm đánh (H47). Đánh khuỷu xong, nhanh chóng rút tay về tư thế chuẩn bị ban đầu.



+ ĐIểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân, khi chân phải bước lên đồng thời nâng khuỷu

tay phải đánh vào mục tiêu.

+ ĐIểm chú ý: Không đánh khuỷu tay từ dưới lên.

Hình 47 Hình 48



b) Tay trái đánh khuỷu ngang về trước:



Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tay trái ở ngoài được gập nắm đấm vào gần vai và nâng khuỷu tay trái lên gần ngang vai đồng thời chân trái bước thẳng lên 1 bước, chân phải rẽ theo, kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái đánh khuỷu tay trái sang phải vào đIểm đánh là cằm, cổ đối phương. ĐIểm chạm giống như tay phải. Trọng lượng toàn thân dồn nhiều vào chân trái, người hơi lao về trước, tay phải vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu, mắt liếc nhìn điểm đánh (H48). Đánh khuỷu xong, nhanh chóng rút tay về thế chuẩn bị.

+ ĐIểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân khi chân trái bước lên đồng thời tay trái gập lại và nâng khuỷu tay lên đánh vào mục tiêu.

11) Tay phải, tay trái đánh khuỷu về sau:

a) Tay phải đánh khuỷu về sau:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, trọng lượng toàn thân chuyển sang chân trái, chân phải hơi thu về, mông được xoay sang trái. Đồng thời tay phải được lật ngửa nắm đấm. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải đánh mạnh khuỷu tay từ trước về sau theo một đừong thẳng sát với sườn phải. Nắm đấm đến ngang sườn thì dừng lại, mắt liếc nhìn đIểm đánh, đIểm chạm là khuỷu (cùi trỏ), đIểm đánh là bụng đối phương. Tay phải đánh khuỷu về sau, tay trái thu về chuẩn bị dưới cằm, mắt liếc nhìn đIểm đánh (H49). Đánh khuỷu xong nhanh chóng rút tay về thế chuẩn bị.

+ ĐIểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân khi chuyển trọng lượng sang chân trái đồng thời tay phảI đánh khuỷu về phía sau.


Hình 49 Hình 50

b) Tay trái đánh khuỷu về phía sau:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, đánh khuỷu về sau bằng tay trái ta chuyển

trọng lượng toàn thân sang chân phải, mông và thân người được chuyển sang bên phải, chân trái hơi thu về, tay trái đánh mạnh vào khuỷu tay từ trước về sau vào đIểm đánh giống như tay phải. ĐIểm đánh, đIểm chạm giống tay phải. Mắt liếc nhìn đIểm đánh (H50). Đánh khuỷu xong, nhanh chóng rút tay về thế chuẩn bị.

+ ĐIểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân khi chuyển trọng lượng sang phải đồng thời tay trái đánh mạnh khuỷu tay về sau.



Chương III

Các động tác kỹ thuật đánh bằng chân

I/ ý nghĩa tác dụng:

Kỹ thuật đánh bằng chân có nhiều lối đánh khác nhau theo tính chất của từng môn phái võ. Trong

thực tế chiến đấu không chỉ sử dụng độc nhất các đòn đánh của tay mà phải luôn kết hợp với các đòn chân. Đòn đánh bằng chân thường nguy hiểm vì có lực rất mạnh, có hiệu quả chiến đấu cao khi đã tập luyện thuần thục, điêu luyện chính xác.

Trong giáo trình này chúng ta chỉ nghiên cứu tập luyện một số động tác cơ bản thường được sử

dụng trong chiến đấu, đồng thời biết kết hợp giữa các đòn đánh bằng chân với các đòn đánh bằng tay để vận dụng trong thực tế chiến đấu, công tác.

II/Động tác kỹ thuật:

1. Chân phải, chân trái đá thẳng

a) Chân phải đá thẳng:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, xoay mũi chân trái sang trái khoảng 7-10 cm và hơi

chùng gối để chịu trọng lượng toàn thân, người hơi gập về trước sang trái, chân phải co lên cẳng chân gập sát đùi, tay phải đưa xuống che hạ bộ, tay trái thu về chuẩn bị trước ngực. Kết hợp lực toàn thân, chủ yếu là sức bật của cơ đùi và cơ cẳng chân bật đá chân phải về trước đi theo một đường thẳng từ dưới lên vào điểm đá, điểm chạm nếu đi giầy là toàn bộ mũi giầy, nếu đi chân không là cùi ức bàn chân, điểm đánh là hạ bộ, bụng, ngực, cằm đối phương, đá xong, nhanh chóng rút chân về thế chuẩn bị (Hình 51).

+ Điểm trọng tâm: Chuyển trọng lượng đồng thời co rút chân phải lên đá ngay, chủ yếu dùng sức

bật của cơ đùi cơ cẳng chân.

+ Điểm chú ý: Không đá lăng chân.


Hình 51 Hình 52

b) Chân trái đá thẳng:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, chân trái đá thẳng, cách đá và kết hợp sức, lực giống như chân phải chỉ khác là chuyển trọng lượng toàn thân sang chân phải, chân trái co lên đá ngay.

Điểm chạm, điểm đánh giống như chân phải. Khi đá tay trái đưa xuống che hạ bộ, tay phải giữ nguyên

vị trí trước ngực, mắt liếc nhìn điểm đá (Hình 52). Đá xong, nhanh chóng rút chân về thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Chuyển trọng lượng đồng thời co chân trái lên đá ngay. Chủ yếu dùng sức bật của cơ đùi và cơ cẳng chân.

+ Điểm chú ý: Giống như chân phải đá thẳng.

2. Chân phải, chân trái đá móc.

a) Chân phải đá móc:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, chân trái bước lên và sang trái một bước dài, đồng

thời chùng gối để chịu trọng lượng toàn thân, thân người phía trên gập nghiêng sang trái, sườn và chân phải hướng lên trên, chân phải co lên cẳng chân gập lại sát đùi, đùi thẳng so với thân người. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của cơ đùi và cơ cẳng chân phải, bật đá chân phải từ sau về trước, từ dưới lên vào điểm đánh, điểm chạm giống như chân phải đá thẳng, điểm đánh từ bộ hạ trở lên ngực, khi chân phải đá móc, tay phải đánh mạnh về sau để tăng lực đá và giữ thăng bằng, tay trái thu về

trước ngực, mắt liếc điểm đánh (Hình 53). Đá xong, nhanh chóng rút chân về tư thế chuẩn bị ban đầu. 

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân, chân trái bước lên, chân phải co lên đá ngay. + Điểm chú ý: Không đá lăng chân, đá mất hướng.


Hình 53 Hình 54

b) Chân trái đá móc:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, chân phải bước lên theo hướng mũi bàn chân phải

một bước dài gối chùng thấp người nghiên sang phải để chịu trọng lượng toàn thân. Chân trái co lên đá móc về trước. Kỹ thuật đá, điểm chạm, điểm đánh giống chân phải, chỉ khác là tay trái đánh mạnh về sau để lấy thăng bằng và tăng thêm lực, mắt liếc nhìn điểm đánh (Hình 54). Đá xong, nhanh chóng rút chân về thế chuẩn bị ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân, chân phải bước lên chân trái co lên đá ngay. + Điểm chú ý: Giống như chân phải đá móc.

3. Chân phải đá quét về sau.

Tư thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, xoay mũi chân trái sang trái khoảng 5-7cm và chùng

gối để chịu trọng lượng toàn thân, chân phải đưa lên trước, gót chân phải cách mũi bàn chân trái và cách mặt đất khoảng 10-15cm. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là chân phải đá quét gót chân phải về sau theo một đường thẳng từ trái sang phải, từ trước về sau vào điểm đánh. Khi chân phải đá quét về sau đồng thời tay phải đánh về trước để kết hợp lực, do vậy thân người hơi gập úp về trước và sang trái, tay phải ở ngoài, tay trái thu về trước ngực, điểm chạm là góc chân, điểm đánh là bắp chân hoặc cổ chân phía sau của đối phương (Hình 55). Đá quét xong, nhanh chóng rút chân về thế chuẩn bị.



+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân đưa chân phải lên đá quét ngay.

+ Điểm chú ý: Không đá thẳng từ trước về sau.


Hình 55

4. Chân phải, chân trái đạp ngang.

a) Chân phải đạp ngang sang phải:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, mũi chân trái xoay sang trái 5-7cm gối chùng để

chịu trọng lượng toàn thân, thân người hơi gập về trước và nghiêng sang trái, đồng thời chân phải co lên, bàn chân phải gần ngang với gối trái, cạnh bàn chân hướng xuống đất. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của cơ đùi và cơ cẳng chân bật đạp ngang bàn chân phải sang phải từ dưới lên, từ phải sang trái, từ trong ra vào điểm đánh. Điểm chạm là cạnh ngoài của bàn chân (3/4 cạnh bàn chân tính từ gót). Tay phải xuôi tự nhiên che bộ hạ, tay trái thu về chuẩn bị trước ngực, mắt liếc nhìn điểm đánh (Hình 56). Đạp xong, nhanh chóng rút chân về tư thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Chuyển trọng lượng, đồng thời co chân phải lên đạp ngang, chủ yếu dùng sức bật của cơ đùi và cẳng chân.

+ Điểm chú ý: Không đứng thẳng người, gập người càng thấp đạp càng cao.


Hình 56 Hình 57

b) Chân trái đạp ngang sang trái.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, chân trái đạp ngang sang trái toàn bộ kỹ thuật và kết

hợp lực giống chân phải đạp ngang chỉ khác là chân phải chịu trọng lượng toàn thân người hơi gập về trước và sang phải, chân trái co lên đạp ngang sang trái. Điểm đánh, điểm chạm giống chân phải, tay trái đưa xuống che hạ bộ, tay phải ở dưới cằm, mắt liếc nhìn điểm đánh (Hình 57). Đạp xong, nhanh chóng rút chân về tư thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Chuyển trọng lượng sang chân phải, co chân trái lên đạp ngang sang trái, lực



chủ yếu là cơ đùi và cơ cẳng chân.

+ Điểm chú ý: Giống như chân phải đạp ngang.

5. Chân phải, chân trái đánh gối.

a) Chân phải đánh gối:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, xoay mũi bàn chân trái sang trái 5-7cm và hơi

chùng gối để chịu trọng lượng toàn thân, chân phải co lên đánh gối về trước vào điểm đánh đồng thời hai tay ta giật mạnh hai nắm tay về ngang sườn thì dừng laị. Gối phải đánh lên làm cho đùi gần vuông góc so với thân người, cẳng chân gập sát đùi, mũi bàn chân chúc xuống đất, điểm chạm là toàn bộ đầu gối, điểm đánh là hạ bộ, bụng của đối phương (Hình 58). Đánh gối xong, nhanh chóng rút về tư thế chuẩn bị ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chân trái bước lên chân phải co lên đánh gối ngay.


Hình 58 Hình 59

b) Chân trái đánh gối:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, chân phải bước lên một bước và chùng gối để chịu

trọng lượng toàn thân, chân trái co lên đánh gối từ sau về trước, đồng thời hai tay giật mạnh hai nắm tay về ngang sườn thì dừng lại, gối trái đánh lên làm cho đùi gần vuông góc so với thân người, cẳng chân gập sát đùi, mũi bàn chân chúc xuống đất. Điểm chạm, điểm đánh giống như chân phải đánh gối (Hình 59). Đánh gối xong, nhanh chóng rút chân về tư thế chuẩn bị ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Chân phải bước lên chân trái co lên đánh gối ngay.



Chương IV:

Kỹ thuật gạt đỡ, tránh né, ngã đỡ

I. ý nghĩa tác dụng:

Kỹ thuật gạt đỡ, tránh né, ngã đỡ trong võ thuật CAND là những kỹ thuật phòng ngự tích cực. Bởi vì trong thực tế chiến đấu không phải lúc nào ta cũng chủ động tấn công đánh bắt đối phương, mà nhiều khi ta bị đối phương tấn công chống trả một cách quyết liệt.

Nghiên cứu và tập luyện 1 số động tác kỹ thuật gạt đỡ, tránh né, ngã đỡ (kỹ thuật phòng ngự) là để đối phó, ngăn chặn các đòn đánh của đối phương nhằm bảo vệ mình tạo thế bất ngờ, chủ động đánh bắt đối phương bằng những đòn quyết định.

Trong tập luyện ứng dụng phần chiến thuật phải áp dụng kỹ thuật ngã đỡ rất nhiều, do đó phải tập luyện tốt các động tác ngã đỡ để phục vụ cho công tác và học tập đạt kết quả tốt.

II. Các động tác gạt đỡ, tranh né.

1. Tay phải, tay trái gạt đỡ cao.

a) Tay phải gạt đỡ cao:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai,

cánh tay phải gạt bật cánh tay từ dưới lên và chếch sang phải, bàn tay khum tự nhiên cao ngang trán và cách trán khoảng 25 - 30cm thì dừng lại (Cánh tay trong gần vuông góc so với thân người ở nách, cánh

tay trong và cánh tay ngoài tạo thành một góc khoảng 1100 ở khuỷu tay) do chuyển động của đường gạt

nên chân trái chùng để chịu trọng lượng toàn thân nhiều hơn chân phải, thân người được xoay từ phải sang trái và hơi gập về trước, chân phải gối khuỵu gót kiễng, tay phải gạt, tay trái thu về chuẩn bị trước ngực, mắt liếc nhìn điểm gạt. Điểm chạm là toàn bộ cạnh bàn tay và cạnh ngoài cánh tay phải, (Hình 60). Gạt xong, nhanh chóng rút tay về tư thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân gạt bật cánh tay phải từ dưới lên và chếch sang phải. + Điểm chú ý: Không lấy đà để gạt.


Hình 60 Hình 61

b) Tay trái gạt đỡ cao:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tay trái ở ngoài được thu về so với vị trí ban đầu khoảng 10 - 15cm. Kết hợp lực toàn thân, chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái gạt bật cánh tay từ dưới lên và hơi chếch sang trái. Kỹ thuật gạt và điểm chạm giống như tay phải gạt đỡ cao. Hai chân chùng đều trọng lượng toàn thân hơi dồn nhiều vào chân trái, tay phải giữ nguyên, mắt hơi liếc



nhìn điểm gạt (Hình 61). Gạt xong nhanh chóng rút tay về tư thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái. + Điểm chú ý: Giống như tay phải gạt đỡ cao.

2. Tay phải, tay trái gạt chặt thấp.

a) Tay phải gạt chặt thấp:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai

và cánh tay phải gạt chặt một đường từ trên xuống đến ngang hạ bộ và cách hạ bộ khoảng 20-25cm. Cánh tay gạt xuống cong tự nhiên, bàn tay khum và khép kín, chân trái chùng chịu trọng lượng toàn thân, chân phải gối khuỵu, gót kiễng, đùi phải gần sát với đùi trái, tay trái rút về chuẩn bị trước ngực, mắt liếc nhìn điểm gạt, điểm chạm chủ yếu là cạnh bàn tay phải (Hình 62). Gạt xong, nhanh chóng rút tay về thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải gạt chặt cạnh bàn tay từ trên xuống.

+ Điểm chú ý: Không gạt xuống quá thấp hoặc gạt sát người qúa.


Hình 62 Hình 63

b) Tay trái gạt chặt thấp:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tay trái ở phía ngoài được thu về so với vị trí ban

đầu khoảng 15-20cm. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái gạt chặt cạnh bàn tay trái từ trên xuống đến ngang hạ bộ và cách hạ bộ khoảng 20-25cm thì dừng lại, điểm chạm là cạnh bàn tay trái.

Hai chân chùng đều, trọng lượng toàn thân dồn nhiều sang chân phải, đùi trái khép lại gần đùi phải, tay phải giữ nguyên vị trí ban đầu. Mắt liếc nhìn điểm gạt (Hình 63). Gạt xong, nhanh chóng rút tay về tư thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật dằn của bả vai và cánh tay trái. + Điểm chú ý: Giống như gạt chặt thấp tay phải.

3. Tay phải, tay trái gạt chặt ra ngang sườn.

a) Tay phải gạt chặt ra ngang sườn:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tay phải ở dưới cằm được lật ngửa bàn tay và hạ

thấp đến ngang thắt lưng. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức của bả vai và cánh tay phải gạt hắt cánh tay từ trong ra và chếch sang phải, sức của bả vai và cánh tay phải gạt hắt cánh tay từ trong ra và chếch sang phải, cách gối phải khoảng 35 - 40cm. Cánh tay phải thẳng tự nhiên, trọng lượng toàn thân chuyển sang chân phải, người hơi gập về trước, sang phải. Tay phải gạt ra, tay trái thu về chuẩn bị trước ngực, mắt liếc nhìn điểm gạt, điểm chạm là toàn bộ cạnh trong của cánh tay ngoài (Hình 64). Gạt



xong, nhanh chóng rút tay về thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải. + Điểm chú ý: Không gạt hắt ra phía trước và chếch về sau.



Hình 64 Hình 65

b) Tay trái gạt hắt ra ngang sườn:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tay trái ở phía ngoài được thu về so với vị trí ban

đầu khoảng 15 - 20cm và lật ngửa bàn tay. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái, gạt hắt cánh tay từ trong ra và chếch sang trái, cách gối khoảng 35 - 40cm. Trọng lượng toàn thân được chuyển nhiều sang chân trái, tay phải giữ nguyên, mắt liếc nhìn điểm gạt. Điểm chạm giống như tay phải (Hình 65). Gạt xong, nhanh chóng rút tay về tư thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay trái. + Điểm chú ý: Giống như tay phải.

4. Tay phải, tay trái gạt tạt trước mặt.

a) Tay phải gạt tạt trước mặt:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, nắm tay phải ở dưới cằm được đưa ra sang phải

bàn tay ngang tai phải. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức bật của bả vai và cánh tay phải gạt bật cạnh ngoài cánh tay từ phải qua trái đến qua mặt thì dừng lại, bốn ngón tay khum tự nhiên cao ngang trán và cách trán khoảng 20-25cm. Do chuyển động của đường gạt nên 1/2 thân người phía trên được xoay từ phải qua trái, chân trái gối chùng chịu trọng lượng toàn thân. Chân phải gối khuỵu xuống, gót kiễng, mắt liếc nhìn điểm gạt, tay phải gạt tạt, tay trái thu về chuẩn bị trước ngực. Điểm chạm là toàn bộ cạnh bàn tay và cạnh ngoài cánh tay phải (Hình 66). Thực hiện xong, nhanh chóng rút tay về thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Kết hợp lực toàn thân khi đưa tay phải ra là gạt tạt ngay đến qua mặt thì dừng l ại . 

+ Điểm chú ý: Không gạt quá sang trái.



Hình 66 Hình 67

b) Tay trái gạt tạt trước mặt:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tay trái phía ngoài được thu về khoảng 15-20cm và

đưa sang trái. Kết hợp lực và kỹ thuật gạt giống như tay phải chỉ khác là gạt từ trái qua phải, bàn tay trái đến qua mặt thì dừng lại, bốn ngón tay khum tự nhiên cao ngang trán và cách trán khoảng 20-25cm, do chuyển động của đường gạt nên 1/2 thân người phía trên được xoay từ trái qua phải hai chân chùng đều, trọng lượng toàn thân hơi dồn nhiều vào chân trái, tay trái gạt tạt trước mặt, tay phải vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu. Điểm chạm giống như tay phải gạt tạt (Hình 67), gạt xong nhanh chóng rút tay về thế chuẩn bị.

+ Điểm trọng tâm: Tay trái thu về và gạt tạt trước mặt ngay. + Điểm chú ý: Không gạt quá sang bên phải.

5. Tránh né sang phải, sang trái.

a) Tránh né sang phải:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, dùng sức bật gập của cơ bụng; sức duỗi của cơ lưng

bật gập 1/2 thân người phía trên về trước sang phải làm thay đổi vị trí ban đầu khoảng 20cm. Trọng lượng toàn thân hơi dồn nhiều vào chân phải, hai tay vẫn giữ nguyên như chuẩn bị ban đầu. Mắt liếc nhìn theo (Hình 68) tránh xong, bật người về vị trí ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Dùng sức bật gập, bật tránh thân người sang phải làm thay đổi vị trí. + Điểm chú ý: Không gật đàu hoặc tránh quá thấp.

b) Tránh né sang trái:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tránh né sang trái ta làm ngược lại tránh né sang

phải tức là chuyển trọng lượng sang chân trái, 1/2 thân người phía trên bật gập về trước sang trái, tay phải đưa ra phía trước, tay trái thu về trước ngực, thân người bật tránh sang trái lệch so với vị trí ban đầu khoảng 20cm (Hình 69). Tránh né xong, bật thân người trở về vị trí ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Dùng sức bật gập, bật tránh né thân người sang trái làm thay đổi vị trí. + Điểm chú ý: Giống như tránh né sang phải.



Hình 68 Hình 69

6. Tránh luồn sang phải, sang trái.

a) Tránh luồn sang phải:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tránh luồn sang phải ta chùng thấp hai gối đồng thời

chuyển trọng lượng thân người từ chân trái sang chân phải, thân người chuyển theo, làm thay đổi chiều cao ban đầu và sang phải khoảng 20cm để tránh đòn của đối phương, tránh xong bật người về vị trí ban đầu.

+ Điểm trọng tâm Chùng thấp hai gối và tránh luồn sang phải. + Điểm chú ý: Không chùng quá thấp.

b) Tránh luồn sang trái:

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, tránh luồn sang trái, kỹ thuật tránh giống như bên

phải chỉ khác là tránh luồn từ phải sang trái, chuyển trọng lượng từ chân phải sang chân trái. Tránh xong nhanh chóng bật trở về vị trí chuẩn bị ban đầu.

+ Điểm trọng tâm: Điểm chú ý: Giống như tránh luồn sang phải.

III. Các động tác ngã đỡ.

1. Ngã nghiêng bên trái.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, xoay mũi bàn chân trái sang trái khoảng 5-7cm và

chùng gối để chịu trọng lượng toàn thân. Chân phải đưa thẳng về trước, người ngồi xuống trên gót chân trái, hai tay đưa song song về trước (Hình 70a). Dùng sức bật của chân trái bật ngã nghiêng người sang trái. Khi ngã xuống điểm chạm đầu tiên là cạnh bàn tay trái, rồi đến cánh tay trái đập xuống đất đồng thời cùng lúc bàn chân phải đập xuống đất, đùi vuông góc với thân người tạo thành 3 điểm chạm đất là cánh tay trái, vai trái, bàn chân phải, mũi bàn chân trái nâng người lên khỏi mặt đất. Tay trái

xuôi theo thân người tạo với thân người một góc khoảng 450, ở nách tay phải chuẩn bị dưới cằm, đầu 

nâng lên khỏi mặt đất (Hình 70b).

+ Điểm trọng tâm: Dùng toàn bộ cánh tay trái, vai trái, bàn chân phải, mũi bàn chân trái để nâng cơ thể khi ngã.

+ Điểm chú ý: Khi ngã vai trái vừa chạm đất đồng thời bàn chân phải đập xuống để tạo thành 3 điểm nâng cơ thể, không co khuỷ tay để dưới sườn trái.



Hình 70a Hình 70b

- Đứng dậy có hai cách:

Cách 1: - Dùng động tác cắt kéo hai chân bật người đứng dậy: Đang ở tư thế ngã nghiêng, dùng sức bật của cơ lưng và sườn bật mạnh chân phải sang phải, cắt kéo chân trái lật người sang phải, kết hợp 2 tay, 2 chân đẩy người đứng dậy thành thế đứng chân trước chân sau cao.

Cách 2: Lật sấp người chống tay đứng dậy:

Đang ở tư thế ngã nghiêng, khi đứng dậy nhanh chóng lật người sấp xuống, tay phải chống xuống

đất, kết hợp với tay trái và hai chân nâng người lên, chân trái bước một bước dài về trước thành thế đứng chân trước chân sau cao.

2. Ngã sấp tại chỗ.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, hai gối chùng thấp, hai tay đưa về trước song song

với nhau, dùng hai mũi bàn chân đẩy người ngã sấp về trước. Khi người đang trên đà ngã xuống, hai cạnh bàn tay chạm đất trước tiếp theo là 2 cạnh cánh tay ngoài để nâng đỡ cơ thể. Kết hợp với hai mũi bàn chân nâng người khỏi mặt đất, nhanh chóng co gối chân phải lên sát sườn dưới bụng, mu bàn chân

phải sát đất, mông ngồi lên gót chân phải, chân trái duỗi, đầu ngẩng lên mắt nhìn thẳng (Hình 71).

+ Đứng dậy, kết hợp lực đẩy của hai tay và hai chân đẩy người đứng dậy, chân trái bước lên 1 bước dài thành thế đứng chân trước chân sau cao.

+ Điểm trọng tâm: Dùng hai cạnh bàn tay và cánh tay ngoài để nâng đỡ cơ thể khi ngã xuống. + Điểm chú ý: Không ngã chống hai cùi bàn tay xuống đất.

Hình 71

3. Ngã sấp lộn ngửa.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, cúi gập thân người xuống, tay phải đặt xuống đất

vào điểm giữa của hai chân, mũi bàn tay phải quay sang trái. Bàn tay trái đặt trước mũi chân trái và cách mũi chân khoảng 20-25cm, mũi bàn tay trái hướng sang phải (Hình 72a). Hạ thấp vai phải, đầu nghiêng sang trái. Dùng sức đẩy của hai chân đẩy người ngã sấp về trước, điểm tiếp giáp đầu tiên là vai phải, đến lưng và theo đà quán tính lăn kết hợp với tay trái đẩy người đứng dậy thành thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, quá trình ngã lộn một chân cao, một chân duỗi (Hình 72b).

+ Điểm trọng tâm: Khi ngã đầu nghiêng sang trái, dùng sức đẩy của hai chân, vai phải chạm đất trước.



+ Điểm chú ý: Không được cắm đầu xuống để ngã.


Hình 72a Hình 72b

4. Ngã ngửa tại chỗ.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, khi ngã hai gối chùng thấp, hai tay duỗi thẳng song

song về trước chếch so với thân người một góc khoảng 450. Dùng sức đẩy của hai chân đẩy người ngã

về sau, điểm tiếp xúc đầu tiên là 2 cạnh bàn tay, mông phải rồi đến 2 cánh tay. Hai tay đập xuống đất

chếch so với thân người một góc khoảng 450 ở nách. Hai chân co lên so le, chân phải ở dưới chân trái 

ở trên, đầu ngẩn lên nhìn về phía trước (Hình 73).

+ Đứng dậy: Dùng sức đẩy của hai tay và đạp mạnh hai chân về trước đẩy người đứng dậy thành thế đứng chân trước chân sau cao.

+ Điểm trọng tâm: Khi ngã, hai tay cùng lúc đập mạnh xuống đất để nâng đỡ cơ thể. + Điểm chú ý: Khi ngã phải cứng cơ cổ và gập đầu về trước.

5. Ngã ngửa lộn sấp.

Từ thế đứng chân trước chân sau tư thế cao, kỹ thuật ngã giống như ngã ngửa tại chỗ chỉ khác là

theo đà quán tính và sức co gập của cơ bụng, đầu nghiêng sang trái (Hình 73a, b) lộn về sau. Kết hợp với sức đẩy của 2 tay đẩy người đứng dậy thành thế đứng chân trước chân sau tư thế cao.

+ Điểm trọng tâm: Giống như ngã ngửa tại chỗ, khi lộn đầu nghiêng sang trái. + Điểm chú ý: Không để đầu chống xuống đất.


Phần III

Chiến thuật võ thuật CAND

---------------------------------------

CHƯƠNG I

Đánh bắt địch bất ngờ

1-ý nghĩa, tác dụng:

Xuất phát từ mục đích, tính chất chiến đấu của lực lượng CAND. Đánh bắt địch bất ngờ là để phục vụ cho yêu cầu nghiệp vụ của nghành, là 1 yêu cầu cần thiết không thể thiếu được đối với mỗi cán bộ chiến sỹ Công an chúng ta.

Đánh bắt địch phải đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ thì mới hiệu quả cao. Vì vậy mà phải chủ động đánh bắt, nhanh gọn, chính xác. Đánh bất ngờ không để lại dấu vết ở hiện trường xảy ra, giữ được ổn định ở khu vực đó, không gây chấn động đến quần chúng xung quanh.

Đánh bắt địch bất ngờ là đánh bắt địch để khống chế khai thác và bắt địch làm việc cho ta, làm cơ sở cho việc củng cố chứng cớ, giúp cho việc phá án nhanh chóng.

Đánh bắt địch bất ngờ có nhiều nội dung, nhiều cách đánh song trong giáo trình này chúng

ta chỉ nghiên cứu 1 số động tác cơ bản mà trong thực tế đã sử dụng đánh bắt đạt hiệu quả cao.

2-Nội dung động tác:

a-Tạt tay, đánh cổ và quét ngã:

Đối phương đang đứng hoặc đi, ta đi ngược chiều đến vừa cự ly đánh, chân trái bước lên hơi

chếch sang trái 1 bước, bàn chân gần ngang với bàn chân phải của đối phương và cách khoảng 35- 40cm, cùng lúc dùng bàn tay trái đánh tạt mạnh vào khớp khuỷu tay phải của đối phương, đồng thời

dùng cạnh ngoài cánh tay phải đánh mạnh vào cổ quập lại đẩy đối phương mất đà.(Hình 74)



Hình 74 Hình 75

Chân trái làm trụ, chân phải ta đưa lên đá quét về sau (vào chân trụ hoặc cả 2 chân đối phương)

quật đối phương ngã xuống, ta chủ động ngã theo, người chén sát đối phương. (Hình 75)

Ta nhanh chóng dùng tay trái đánh mạnh vào gáy đối phương , làm đối phương mất sức kháng cự. Kết hợp với lực của toàn thân chủ yếu là sức bật của 2 tay và 2 mũi bàn chân bật người dậy, gối phải ta đánh vào sườn phải đối phương, tay phải vuốt theo tay phải đối phương về nắm khớp cổ tay, kết hợp 2 tay bẻ khoá tay đối phương, gối trái đánh mạnh vào gáy, gối phải lùi về sau vuông góc ở khuyeo, người ta ở tư thế khoá(Hình 76).Mắt quan sát đối phương.

- Điểm trọng tâm:



Tạo yếu tố bất ngờ, tạt tay, đánh cổ đẩy đối phương mất đà

- Điểm bảo hiểm:

Động tác đánh cổ, ta đánh vào bả vai và trướt quặt lấy cổ.Người phụ vụ lên cơ cổ, quay

sang phải để tránh ngạt thở và chủ động ngã nghiêng bên trái.Các động tác khác đánh nhanh, chính xác và có độ dừng.


Hình 76 Hình 77

b.Giật tay, đá móc, khoá đối phương

Đối phương đang đứng hoặc đi, ta đi ngược chiều đến vừa cự ly đánh, chân phải làm trụ,

chân trái ta bước lên và hơi chếch sang trái 1 bước, bàn chân ta gần ngang với bàn chân phải của đối phương và cách khoảng 40-45cm, cùng lúc dùng 2 tay chộp lấy cổ tay phải đối phương giật mạnh sang trái làm đối phương mất đà, chân trái ta làm trụ chân phải đưa lên đá móc vào bụng hoặc hạ bộ đối

phương. (Hình 77)

Nhanh chóng chân trái làm trụ, chân phải bước vòng từ sauvề trước và chếch sang trái. Kết hợp 2 tay ta dâng tay đối phương qua đầu vặn ngược chiều quay kim đồng hồ(Hình 78). Tay phải nắm chặt tay đối phương, dùng cạnh bàn tay trái chặt vào khớp khuỷu tay đối phương. Kết hợp 2 tay bẻ khoá tay đối phương ra sau lưng, tay trái ta giữ khoá, tay phải nắm tóc giật ngửa đầu đối phương về sau, chân trái ta chèn sát cạnh ngoài bàn chân phải của đối phương, ta ở tư thế giữ khoá.

-Điểm trọng tâm:Tạo yếu tố bất ngờ, giật tay đá móc.

- Điểm bảo hiểm: Người đánh, nhanh mạnh, chính xác, có độ dừng.Người phục vụ cứng cơ

bụng.





Hình 78

3.Giật tay, giật tóc, đap khuyeo:



Ta và đối phương đi cùng chiều, ta từ phía sau đối phương đi tới, đến vừa cự ly đánh

nhanh chóng chân phải bước lên trên 1 bước và hơi chếch sang phải, mũi bàn chân phải ta ngang với gót chân và cách gót chân phải của đối phương khoảng 35-40cm, cùng lúc dùng tay phải nắm chặt lấy cổ tay phải của đối phương giật sang phải, đồng thới tay trái nắm lấy tóc đối phương giật ngửa về sau làm đối phương mất đà, chân trái co lên dùng cạnh ngoài bàn chân đạp mạnh vào khớp khuyeo buộc đối phương quỵ xuống (Hình 79).


Hình 79 Hình 80

Tay trái rời túm tọc đối phương, dùng cạnh bàn tay trái chặt nghịch vào cổ đối phương, kết hợp 2 tay bẻ khoá tay đối phương về sau và dâng đối phương lên, tay trái giữ khoá, tay phải túm tóc

giật ngửa về sau - mông trai ta chén sát vào mông đối phương. Ta ở tư thế giữ khoá.(Hình 80)

-Điểm trọng tâm: Tạo yếu tố bất ngờ, giật tay, giật tóc, đạp khuyeo,chặt gáy.

-Điểm bảo hiểm:Người đánh nhanh, chính xác, có độ dừng, khi chặt cổ ta chặt vào vai.Đap

khuyeo ta đạp trượt và dậm chân sang bên.

-Người phục vụ: Bị đau dùng tay trái đâpk vào hông mình báo cho người đánh biết để giảm đòn đánh.

4-Giật chân húc vai đẩy ngã:

Đối phương đang đứng hoặc đi, ta đi cùng chiều. Đến vừa cự ly đánh, chân trái làm trụ,

chân phải bước vào khoảng giữa 2 chân của đối phương và cách gót chân đối phương khoảng 20- 25cm, cùng lúc chùng thấp người, 2 tay ta chộp và nắm chặt lấy 2 cổ chân của đối phương gìm xuống. Nhanh chóng quay cổ sang trái , vai phải ta đặt phía dưới nếp mông trái của đối phương(Hình 81a).


Hình 81a Hình 81b

Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức đẩy của cơ vai đẩy đối phương ngã đập mặt xuống đất. Ta nhanh chóng bật người lên, chân trái chèn sát nách trái đối phương, chân phải chèn sát sườn phải, gối phải đánh mạnh vào sườn đối phương. Dùng nắm đấm tay phải đấm mạnh vào gáy làm đối phương mất sức kháng cự. Tay phải nắm tóc giật ngửa cổ đối phương.Kết hợp 2 tay bẻ khoá tay đối phương ra sau lưng, tay trái giữ khoá, tay phải giơ ngang tai, gối phải vuông góc ở khuyeo, mắt quan



sát đối phương. Ta ở tư thế giữ khoá.(Hình 81b, c)

-Điểm trọng tâm: Giữ chặt chân đẩy đối phương ngã sấp.

-Điểm bảo hiểm: -Người đánh nhanh, mạnh, chính xác có độ dừng, khi bật lên đánh gáy ta

đánh vào vai.

-Người phục vụ chủ động ngã sấp không lộn, lên cơ cổ đề phòng bị đánh đòn đập mặt xuống đất.


Hình 81c

Chương II

Gỡ đánh khi bị đối phương khoá

1-ý nghĩa tác dụng:

Trong thực tế chiến đấu không phải lúc nào, cán bộ chiến sỹ Công an chúng ta cũng chủ động hoàn toàn mà ngược lại bọn tội phạm không phải lúc nào cũng ngoan ngoãn đầu hàng chúng ta 1 cách vô điều kiện, bọn chúng luôn tìm mọi cách để chống trả cán bộ, chiến sỹ, công an rất quyết liệt hòng chạy trón pháp luật. Do vậy trong các diễn biến tình huống phức tạp này, đòi hỏi cán bộ, chiến sỹ công an phải hết sức bình tĩnh khôn khéo, lợi dụng mọi sơ hở của địch để đánh trả, bảo vệ an toàn sức khoẻ tính mạng cho mình, đồng thời hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.

Trong giáo trình này chúng ta chúng ta chỉ nghiên cứu và tập luyện 1 số động tác cơ bản nhất mà bọn tội phạm thường sử dụng.

2-Nội dung động tác:

a- Gỡ lại khi bị đối phương khoá cổ từ phía sau:

Ta đang đứng hoặc đi, đối phương từ phía sau tới dùng tay phải khoá chặt cổ ta kéo ngửa về sau. Ta bình tĩnh lên cơ cổ cứng và quay sang phải để tránh ngạt thở, cùng lúc 2 tay đưa lên, tay phải bóp huyệt khuỷu tay, tay trái nắm chặt cổ tay đối phương,kết hợp sức gập của cơ bụng, sức giật 2 tay gập người làm đối phương mất đà trên lưng ta (Hình 82a).



Hình 82a Hình 82b

Chân phải làm trụ, chân trái lùi về sau quật đối phương ngã từ sau về trước lộn qua vai ta. Khi đối phương vừa ngã xuống ta nhanh chóng dâng tay đối phương lên, dùng cạnh ngoài bàn chân phải đạp mạnh vào sườn đối phương. (Hình 82b).

Tay trái nắm cổ tay đối phương, tay phải chặt mạnh vào khớp khuỷutay bẻ khoá về sau, gối trái ta đánh vào gáy đối phương, gối phải lùi về sau vuông góc, tay trái ta giữ khoá, tay phải đưa ngang mang tai phải, mắt quan sát đối phương.Ta ở tư thế giữ khoá (Hình 82c) .

-Điểm trọng tâm:

Bình tĩnh lên cơ cổ cứng, xoay cổ sang phải tránh ngạt thở, 2 tay đưa lên nắm lấy tay đối phương.Gập người làm đối phương mất đà.

- Điểm bảo hiểm:

-Người đánh, đánh nhanh chính xác, có độ dừng.

-Người phục vụ chủ động bâth nãg nghiêng bên trái, nếu bị khoá quá chặt thì đập tay xuống đất báo hiệu để người đánh nới khoá.


Hình 82c

2- Gỡ khi bị đối phương ôm ngang lưng:

Ta đang đứng hoặc đi đối phương từ sau tới dùng 2 tay ôm chặt lấy ta.

Ta bình tĩnh 2 tay đưa lên nắm chặt lấy 2 tay của đối phương không cho tuột ra. Dùng gót chân phải ta đánh vào huyệt mu bàn chân phải của đối phương gây đau đớn ban đầu. Đồng thới chân trái ta làm trụ chân phải ta lùi về sau chèn phía ngoài chân phải đối phương gập người về trước làm đối phương mất đà trên lưng ta (Hình 83a).

Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sáưc lăng của cơ lưng sức chèn của chân phải gập, lă2ng người về bên phải quật ngã đối phương xuống, ta chủ động ngã theo chèn sát đối phương.Dùng tay trái đánh vào cổ đối phương, gối phải co lên đánh vào hạ bộ, tay phải nắm chặt vào bụng đối phương

(Hình 83b)

-Điểm trọng tâm:

- Giữ chặt tay khóa, lùi chân, gập người làm đối phương mất đà.

-Điểm bảo hiểm:

-Đánh nhanh gọn, có độ dừng, quá trình ngã, người đánh bỏ tay người phục vụ chủ động chống tay ngã đúng kỹ thuật.



Hình 83a Hình 83b

3-Gỡ khi bị đối phương tóm tóc từ phía trước:

Ta đang đứng hoặc đi đối phương từ trước đi tới, dùng tay phải hoặc tay trái túm chặt tóc ta.

Ta bình tĩnh đưa 2 tay lên nắm và đè giữ chặt phía trên khớp cổ tay (mu bàn tay đối

phương ), không cho đối phương buông tay ra. Kết hợp lực toàn thân chủ yếu là sức giật của 2 tay, sức gập cơ bụng, đồng thới lùi chân phải giật đối phương ngã sấp về phía trước (Hình 84a).


Hình 84a Hình 84b

Quá trìng đối phương ngã ta co gối phải đánh vào bụng hoặc mặt đối phương, tay phải chặt vào gáy làm đối phương đập mặt xuống đất (Hình 84b). Ta xoay người từ trước về sau thành thế chiến đấu chân trước chân sau tư thế cao.

-Điểm trọng tâm:

-Gập cơ bụng, lùi chân, giật ngã, đánh gối làm đối phương mất sức kháng cự.

-Điểm bảo hiểm:

-Đánh nhanh, chính xác, có độ dừng

-Động tác đánh gối ta đánh trượt, người phục vụ chủ động ngã sấp không lộn.

4-Gỡ khi bị đối phương túm áo ngực:

Ta đang đứng hoặc đi, đối phương từ phía trước đi lại (ngược chiều với ta). Bất ngờ đối phương dùng tay phải nắm chặt lấy áo ngực ta, ta binh tĩnh lợi dụngsơ hở của đối phương, tay trái ta đưa lên nắm lấy cổ tay đối phương, dùng cạnh ngoài cánh tay phải đánh xỗc 1 đường từ dưới lên vào khớp khuỷu tay đối phương. Kết hợp 2 tay, tay trái giữ, tay phải kéo bẻ khớp làm đối phương mất đà (Hình 85a).



Hình 851a Hình 85b



Chân trái làm trụ, chân phải ta đá quét về sau quật đối phương ngã xuống, tay trái nắm chặt

cổ tay phải đối phương, dùng cạnh bàn tay phải ta chặt mạnh vào khớp khuỷu tay đối phương. Kết hợp 2 tay bẻ khoá tay đối phương trên đùi trái, gối phải ta đánh mạnh vào sườn phải đối phương, 2 tay ta

giữ khoá (Hình 85b)

-Điểm trọng tâm:

-Cắt kéo tay khoá làm đối phương mất đà

- Điểm bảo hiểm:

-Người đánh, đánh nhanh, chính xác có độ dừng

-Người phục vụ chủ động bật nghiêng bên trái.

4- Phá thế đối phương tấn công khi đang đứng:

a- Tay phải ta bị 2 tay đối phương nắm giữ, lập tức luồn tay trái vào giữa 2 tay đối phương

để giữ lấy nắm tay phải và kéo lên hướng vào trong để thúc mạnh chỏ phải vào ngực đối phương.

(Hình 86 a,b,c)


Hình 86 (a, b, c)

b-2 tay ta bị đối phương nắm giữ, để phản công ta lùi chân phải 1 bước để kéo đối phương

chồm về phía ta rồi đa thẩng mạnh vào hạ bộ đối phương bằng chân phải, đồng thời giật mạnh 2 tay về sau để thoát khỏi 2 tay đối phương.(Hình 87 a,b,c).


Hình 87 (a, b, c)

c-2 tay đối phương nắm giữ vào 2 bên cổ áo ta, để phản công ta lùi chân phải lại 1 bước, đồng

thời 2 tay ta luồn từ dưới vào trong 2 tay đối phương để đánh bậtqua 2 bên, làm tay hắn bật khỏi cổ áo ta, rồi đá thẳngvào hạ bộ đối phương bằng chân phải.(Hình 88 a,b,c,d)

Hình 88 (a, b, c)

d-Đối phương từ sau lưng ôm choàng qua 2 tay ta, để phản cong lập tức ta hạ thấp người

xuống để 2 tay ta tuột khỏi thế ôm của đối phương rồi thúc ngược chỏ phải về sau đánh thẳng vào ngực đối phương đồng thời đấm vòng tay trái vào mặt hoặc đánh gót vào hạ bộ đối phương.(Hình 89

a,b,c,d)


Hình 89 (a, b, c, d)

e-Đối phương đứng phía sau lưng khoá cổ ta, lập tức ta đứng dang rộng 2 chân qua 2 bên,

rồi hơi ngả người về sau 2 tay đấm ngược vào 2 bên thái dương đối phương rồi gập người về trước đồng thời 2 tay ta choàng lên 2 tay đối phương để luồn dưới 2 nách đối phương, chân phải ta chận lên chân phải đối phương và xoay mình nghiêng vai trái quật đối phương xuống đất rồi đấm tiếp theo tay

phải vào mặt đối phương.(Hình 90 a,b,c,d,e)


Hình 90 (a, b, c, d, e)



g- Đối phương đứng ở sau lưng 2 tay nắm giữ tay phải ta, ta xoay mình hướng từ trái qua

phải để đánh lưng bàn tay trái vào mặt hắn. (Hình 91 a,b,c)


Hình 91 (a, b, c)

5-Phá thế tấn công của 2 người cùng 1 lúc:

a-2 tay ta bị 2 đối phương cùng đồng thời nắm giữ ở 2 bên ta lập tức dùng chân phải đá

ngược gót về sau để đán bật 1 địch thủ ra, tiếp đó 2 chân đứng trung bình tấn rồi đánh mạnh cùi chỏ

phải vào hong của đối phương 2. (Hình 92 a,b,c,d)

Hình 92 (a, b, c, d)

b- Khi 2 đối phương nắm 2 tay đứng gần bên ta, chân phải ta lập tức bước choàng qua tay bị

nắm để đá ngang vào bụng đối thủ bên phải để thoát tay phải rakhỏi 2 tay hắn rồi xoay chân phải qua

trái đá thẳng vào ngực đối phương còn lại. (Hình 93 a,b,c,d)


Hình 93 (a, b, c, d)



c-2 tay ta bị 1 người nắm giữ ở sau lưng và đối phương thứ 2 tứ đằng trước bước tới tấn

cong bằng tay, để phản công lập tức chân phải ta đá hất tay đấm của đối phương, rồi đá tiếp vào bụng

hắn. Sau đó chân phải thu về để đá móc gót vào hạ bộ của đối phương còn lại. (Hình 94 a,b,c,d)


Hình 94 (a, b, c, d)

6-Phá thế tấn công trong tư thế ngồi

a-Ta và đối phương ngồi trên ghế, hắn bước tới đám vào ta. Lập tức 2 tay ta bắt chéo hình

chữ X để đỡ hất tay đấm và giữ lấy tay phải của đối phương rồi đứng lên dùng chân phải đá vào ngực 

đối phương. (Hình 95 a,b,c,d,e)


Hình 95 (a, b, c, d, e)

b-Ta đang ngồi trên ghế đối phương đứng bước tới để đá chân vào ta. Lập tức chân phải ta

đứng lên rồi dùng chân trái đá vào đầu gối chân đá của đối phương hoặc vẫn ngồi trên ghế co chân

phải lên để đá thẳng vào ngực hắn. (Hình 96 a,b,c,d,e)



Hình 96 (a, b, c, d, e)

c-Ta đang ngồi trên ghế, đối phương từ bên trái bước tới đấm vào ta. Lập tức ta nghiêng

người về bên phải, tay phải dựa xuống đất và đứng chịn chân phải, dùng chân trái đá ngang vào dưới

nách trái hắn. (Hình 97 a,b,c)


Hình 97 (a, b, c)

d-Đối phương từ bên trái ta bước tới đá bằng chân phải,ta đứng chịn bằng chân phải rồi dùng

chân trái đá chận vào cạnh trong đầu gối trái đối phương rồi đá bồi tiếp chân phải vầo hông hắn.

(Hình 98 a,b,c,d)


Hình 98 (a, b, c, d)

e-Ta đang ngồi trên ghế, đối phương từ phía sau bước tới đấm bằng tay phải, lập tức ta

đứng lên xoay người ra sau, chân phải co lên đá vòng cầu vào cổ đối phương. (Hình 99 a,b,c,d)



Hình 99 (a, b, c, d)

g-Ta và đối phương cùng ngồi trên ghế đối diện cách nhau 1 cái bàn. Hắn bước về bên

phải để đánh bằng tay phải, lập tức ta đứng lên co chân trái đá vòng cầu vào cổ đối phương. (Hình

100 a,b,c,d)


Hình 100 (a, b, c, d)



Chương III





Xử lý một số tình huống đối kháng chân tay không

1. Đối phương dùng tay phải đấm thẳng vào mặt ta.

Phát hiện đối phương dùng tay phải đấm thẳng vào mặt ta. Ta gạt đỡ cao bằng tay trái, tay phải

đấm thẳng vào mặt đối phương, chân phải co lên đá thẳng vào hạ bộ đối phương (Hình 101).

+ Điểm trọng tâm:

- Gạt đỡ đấm thẳng vào một đối phương, làm đối phương mất sức kháng cự.

+ Điểm bảo hiểm:

- Đánh nhanh, chính xác có độ dừng.

(Nếu đối phương đấm thẳng bằng tay trái, động tác ta làm ngược lại).


Hình 101 Hình 102

2. Đối phương dùng tay phải hoặc tay trái đấm ngang vào mặt ta.

Ta đang đứng hoặc đi, phát hiện đối phương dùng tay phải hoặc tay trái đấm ngang vào mặt ta.

PHát hiện đòn đấm đã đi được 2/3 quãng đường ta dùng tay trái hoặc tay phải gạt đỡ khống chế đòn đấm của đối phương, chân phải ta bước lên phía trên một bước, đánh khuỳu vào mặt đối phương (Hình 102).

+ Điểm trọng tâm: Ta gạt đỡ khống chế tay đấm của đối phương đánh khuỷu vào mặt làm đối phương mất sức kháng cực.

+ Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, chính xác có độ dừng, động tác đánh khuỷu vào mặt, người đánh đánh trượt (mô phỏng).

3. Đối phương dùng tay phải hoặc tay trái đấm vào bụng ta.

Ta đang đứng hoặc đi đối phương dùng tay phải (hoặc trái) đấm móc vào bụng ta, chân phải làm

trụ, chân trái rê lùi một chút, đồng thời gập bụng, dùng tay trái gạt chặt thấp vào cánh tay đối phưưong. Tay phải bóp huyệt khuỷu tay, kết hợp hai tay bẻ khoá gìm đối phương xuống, gối phải co lên đánh vào mặt hoặc bụng đối phương (Hình 103).

- Điểm trọng tâm: Gạt đỡ khống chế đòn đấm của đối phương đánh gối vào mặt. - Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, chính xác có độ dừng.



Hình 103 Hình 104

4. Đối phương dùng chân phải hoặc chân trái đá thẳng vào hạ bộ.

Ta đang dừng hoặc đi phát hiện đối phương dùng chân phải hoặc chân trái đá thẳng vào hạ bộ ta,

phát hiện đòn đá đang lao vào (đi được 2/3 quãng đường) ta dùng tay trái hoặc tay phải gạt chặt thấp, tay phải hoặc tay trái đấm thẳng vào mặt đối phương, chân phải hoặc chân trái đá thẳng vào hạ bộ đối phương (Hình 104).

- Điểm trọng tâm: Gạt đỡ khống chế đòn đá, đấm thẳng vào mặt đối phương. - Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, gọn có độ dừng.

5. Đối phương dùng chân phải hoặc chân trái đá móc vào sườn ta.

Ta đang đứng hoặc đi đối phương dùng chân phải hoặc chân trái đá móc vào sườn ta, phát hiện

đòn đá đang lao vào (được 2/3 quãng đường) ta bật lướt lên trên một bước ta hơi chếch sang trái (nếu đối phương đá chân trái) hoặc phải (nếu đối phương đá chân phải) đồng thời tay trái hoặc phải gặt hắt ra khống chế đòn đá của đối phương (Hình 105a) chân phải hoặc chân trái bước lên trên một bước

đồng thời dùng cạnh bàn tay phải hoặc trái chặt dọc vào hạ bộ đối phương (Hình 105b),

- Điểm trọng tâm: Gặt đỡ khống chế đòn đá chặt vào hạ bộ.

- Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh gọn, chính xác có độ dừng, động tác chặt vào hạ bộ, người đánh

chặt vào đùi người phục vụ.


Hình 105a Hình 105b

Chương IV

Đánh giằng co

I. ý nghĩa tác dụng:

Đánh giằng co là những động tác đánh ở cự ly gần. Ôm nằm hay ở tư thế lồng tay tư gần giống như các thể đánh của vô vật, Judo, Săm Pô. Chủ yếu là lợi dụng sức lực của đối phương để quật ngã đối phương, cách đánh là thường dùng nguyên lý đòn bẩy để tạo thời cơ đánh bắt, cho dù đối phương có to khoẻ hơn ta bao nhiêu, nếu biết vận dụng linh hoạt, chớp thời cơ, lừa miếng, tạo thế bất



ngờ, chủ động đánh gục đối phương tức khắc.

Vì vậy trong chiến đấu gặp trường hợp đánh ở cự ly gần, lồng tay tư đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải hết sức bình tĩnh, mưu trí, linh hoạt, chủ động đánh gục đối phương ngay.

II. Nội dung động tác:

1-Đánh xốc nách quật ngã:

Ta và đối phương ở tư thế lồng tay tư, ta luôn chủ động lồng 2 tay của ta vào trong 2 cánh

tay của đối phương, lợi dụng sự lôi kéo đùn đẩy , chân phải ta bước lên 1 bước chẹn sát cạnh trong bàn chân phải cảu đối phương, chân trái lùi về theo, đồng thời tay phải trượt khỏi cánh tay đối phương, dùng cạnh ngoài cánh tay đánh xốc 1 đường từ dưới lên vào khớp nách đối phương quặp chặt lại, gập người về trước làm đối phương mất đà trên lưng ta.(Hình 106a) kết hợp sức giật của 2 tay, sức bật của cơ mông , quật ngã đối phương ngã từ sau về trước. Khi đối phương vừa ngã , gối phải ta đánh mạnh vào sườn đối phương kết hợp 2 tay bẻ khoá tay đối phương trên gối trái, gối trái vuông

góc, 2 tay ở tư thế giữ khoá.(Hình 106b)

-Điểm trọng tâm: Lợi dụng sự đùn đẩy của đối phương, chân phải ta bước lên, tay phải đánh xốc nách, chân trái lùi về gập người làm đối phương mất đà.

-Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, chính xác, có đọ dừng, người phục vụ chủ động ngã nghiêng bên trái.


Hình 106a Hình 106b

2-Ngã ngửa đạp hạ bộ:

Ta và đối phương ở tư thế giằng co, ta chủ động nắm trong 2 cánh tay đối phương.Lợi dụng

sự lôi kéo lúc đối phương đẩy ta, ta nhanh chóng bước trượt chân trái vào khoảng giữa 2 chân của đối phương và chủ động ngã ngửa. Kết hợp 2 tay giật đối phương xuống, chân phải co lên dùng bàn chân

đạp mạnh vào hạ bộ. (Hình 107a)

Buộc đối phương ngã sấp lộn ngửa qua đầu ta (Hình 107b).Ta nhanh chóng lật úp người

sang trái, bật dậy trở về thế chiến đấu chân trước chân sau tư thế cao. (Hình 107c)

-Điểm trọng tâm: Chớp thời cơ lúc đối phương đẩy ta, ta chủ động bước trượt chân trái và ngã ngửa, chân phải đạp hạ bộ.

-Điểm bảo hểm: Người đánh đánh nhanh, chính xác có đọ dừng, khi đạp vào hạ bộ, ta chủ động đạp vào đùi trái người phục vụ.

-Người phục vụ chủ động thực hiện động tác ngã sấp lộn qua ngửa.



Hình 107a Hình 107b

Hình 107c

3-Hớt chân quật ngã:

Ta và đối phương ở tư thế lồng tay tư, ta luôn chủ động luồn 2 tay ta vào phía trong cánh tay đối phương. Lợ dụng sự lôi kéo đu đẩy lúc đối phương kéo ta. Ta nhanh chóng chân phải bước vào khoảng giữa 2 chân đối phương 2 tay vuốt dọc theo thân người từ trên xuống dưới quặp chặt lấy 2 khớp khuỷu đối phương. Kết hợp lực toàn thân, chủ yếu là sức giật của 2 tay, giật đối phương ngã ngửa

đập đầu xuống đất, lúc này 2 nách ta kẹp chặt lấy 2 cổ chân đối phương. (Hình 108a)

Chân phải ta làm trụ, chân trái bước vòng từ sau về trước, từ trái qua phải qua người đối phương buộc đối phương phải lật sấp, ta nhanh chóng thả chân phải đối phương ra, đồng thời chủ động ngồi trên mông đối phương tay phải giữ khoá chân trái,tay trái nắm cổ chân đối phương đè xuống, ta ở tư thế khóa. (Hình 108b).

-Điểm trọng tâm: Lợi dụng lúc đối phương kéo, ta bước chân lên 2 tay vuốt dọc theo thân người từ trên xuống quặp chặt lấy 2 khớp khuỷu chân, giật ngã đối phương.

-Điểm bảo hiểm: Người đánh đánh nhanh, chính xác có độ dừng. Người phục vụ chủ động

ngã ngửa không lộn



Hình 108a Hình 108b

4-Vặn xoắn quật ngã:

Ta và đối phương ở tư thế giằng co(lồng tay tư) ta luôn chủ động lồng 2 tay ta vào trong 2

cánh tay của đối phương.Lợi dụng sự lôi kéo đu đẩy, ta nhanh chóng trượt tay phải về tóm lấy cổ tay đối phương và vặn xoắn theo chiều kim đồng hồ, đồng thời cùng lúc chân phải ta bước lên trên sát bàn chân phải của đối phương, chân trái ta lùi về tạo thành thế 2 chân ngang, dùng cạnh ngoài cẳng tay

đánh xốc mạnh vào nách đối phương, gập người làm đối phương mất đà trên lưng ta.(Hình 109a)

Kết hợp sức giậtcủa 2 tay gập người quật ngã đối phương từ sau về trước, tay trái ta vuốt theo tay phải đối phương về nắm chặt cổ tay. Kết hợp tay phải đánh mạnh vào khớp khuỷu tay đối phương, bẻ khoá trên gối trái, gối phải ta đánh mạnh vào sườn làm đối phương mất sức khãng cự 2 tay

ta giữ khoá.(Hình 109b)

-Điểm trọng tâm: Lợi dụng sự sơ hở của đối phương, ta vặn xoắn cổ áo, đồng thời chân phải bước lên, chân trái lùi về sau đánh mạnh vào nách đối phương, gập người làm đối phương mất đà

-Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, chính xác, có đọ dừng. Động tác đánh gối ta đánh vào mông

người phục vụ

Người phục vụ chủ động ngã nghiêng bên trái.


Hình 109a Hình 109b

Chương V

Đỡ đánh đối phương sử dụng dao găm tấn công

I. ý nghĩa tác dụng:

Dao găm là loại vũ khí thông thường, có đặc điểm gọn nhẹ, dễ mang, dễ cất dấu, khi sử dụng đâm rất lợi hại xoay chuyển được nhiều đường đâm cùng một lúc, thay đổi vị trí đâm, hiệu quả sát thương cao. Do vậy mà bọn tội phạm thường sử dụng loại vũ khí này để gây án. Vì vậy, ngoài việc nghiên cứu, sử dụng, cán bộ, chiến sĩ công an chúng ta còn phải nghiên cứu tập luyện cách đối phó, cách đánh bắt các đường dao của đối phương trong mọi tình huống.



Khi gặp đối phương sử dụng dao găm đâm ta, chúng ta phải hết sức bình tĩnh, khôn khéo lợi

dụng sơ hở của đối phương để đánh bắt.

Nguyên tắc xử lý: Khi đường dao đang trên đà lao vào ta (đi được 2/3 quãng đường) ta mới đánh. Nếu không đánh phải bật ra xa làm mất tác dụng đường dao, chờ thời cơ ta đánh dứt khoát hạ thủ bắt đối phương ngay.

Trong giáo trình này chúng ta chỉ nghiên cứu và tập luyện một số đường dao mà bọn tội phạm thường sử dụng.

II. Nội dung động tác:

1-Dao găm đâm vát thuận, cắt kéo đá quét:

Ta và đối phương ở tư thế đối kháng, đối phương tay phải cầm dao, bước chân phải lên

đâm 1 dao từ trên xuống vào hõm vai trái ta. Ta phát hiện đường dao đang trên đà lao vào và đi được 2/3 quãng đường, chân phải làm trụ chân trái bật lướt lên trên và hơi chếch sang trái 1 bước(bàn chân gần ngang và cách bàn chân phải đối phương khoảng 25-30cm) chân phải rê theo, đồng thời tay trái gạt đỡ dao khống chế tay dao của đối phương (Hình 110a). Cùng lúc dùng cạnh ngoài cánh tay phải đánh xốc 1 đường từ dưới lên vào khuỷu tay đối phương, kết hợp 2 tay cắt kéo đẩy đối phương mất đà

(Hình 110b)

Chân trái làm trụ chân phải đưa lên đá quét về sauvào chân trụ đối phương quật đối

phương ngã xuống, nhanh chóng dùng gối phải đánh mạnh vào sườn đối phương làm đối phương mất sức kháng cự, tay trái nắm lấy cổ tay đối phương dâng lên, dùng cạnh bàn tay phải chặt mạnh vào khớp khuỷu tay đối phương. Kết hợp 2 tay bẻ khoá tay đối phương trên gối trái. Tay phải ta tước vũ khí đưa ngang mang tai, ta ở tư thế giữ khoá (Hình 110c) mắt quan sát đối phương.

-Điểm trọng tâm: Đánh nhanh, chính xác, có đọ dừng. Người phục vụ chủ động ngã nghiêng bên trái.



Hình 110a Hình 110b


Hình 110c



2-Dao găm đâm vát nghịch, chèn đẩy khoá tay trên đùi

Ta và đối phương ở tư thế đối kháng, phát hiện đối phương tay phải cầm dao, chân phải bước lên đâm 1 đường dao từ trái qua phải vào hõm vai ta. Ta phát hiện đường dao đang trên đà lao vào và đi được 2/3 quãng đường, ta bật lướt chân trái lên1 bước, chân phải rê theo, kết hợp xoay

người sang phải đồng thời 2 tay đưa lên gạt đỡ khống chế tay dao của đối phương.(Hình 111a)

Tay phải ta nắm chặt lấy cổ tay dao đối phương, chân trái bước dài từ sau về trước đồng thời tay trái đánh vào gáy đối phương làm mất sức kháng cự. Kết hợp 2 tay bẻ khoấty đối phương trên đùi trái. tay trái chuyển về nắm cổ tay dao đối phương, tay phải bẻ khoá khớp và tước vũ khí, đưa lên

mang tai. Ta ơ tư thế giữ khoá,mắt quan sát đối phương. (Hình 111b)

-Điểm trọng tâm: Bật tránh khống chế tay dao của đối phương, đánh gáy làm mất sức kháng

cự

-Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, chính xác, có độ dừng, động tác đánh khuỷu vào gáy. Người đánh, đánh trượt qua bả vai người phục vụ.



Hình 111a Hình 111b

3-Đánh dao đâm sườ thuận, khoá tay giật ngã sấp.

Ta và đối phương ở tư thế đối kháng, đối phương cầm dao bằng tay phải, bước chân phải

lênđâm vào sườn trái ta. Ta phát hiện đường dao đang trên đà lao vào và đi được 2/3 quãng đường, ta bật lướt chân trái lên1 bước và hơi chếch sang trái, chân phải rê theo, nhanh chóng tay trái gạt hắn ra khống chế tay dao đối phương (Hình 112a). Cùng lúc tay phải dùng 4 ngón kết hợp ngón cài bóp huyệt khớp khuỷu tay đối phương bẻ khoá ra sau lưng, gìm đối phương xuống.

Chân trái làm trụ, chân phải lùi về sau theo chiều kim đồng hồ với góc khoảng 180o. Kết

hợp 2 tay giật đối phương ngã xuống. Gối trái ta đánh vào sườn đối phương, tay trái ta giữ khoá, tay phải ta đấm vào gay đối phương làm đối phương mất sức kháng cự sau đó tước vũ khí đưa lên mang

tai.Ta ơ tư thế giữ khoá( (Hình 112b và 112c) mắt quan sát đối phương

-Điểm trọng tâm: Gạt đỡ khống chếđường dao của đối phương.

-Điểm bảo hiểm: Người đánh, đánh nhanh, chính xác, có đọ dừng. Người phục vụ chủ động

ngã nghiêng bên phải.



Hình 112a Hình 112b


Hình 112c Hình 113a

4-Đánh dao đâm xôc, khoá tay đánh gối:

Ta va đối phương ở tư thế đối kháng, đối phương tay phải cầm dao(mũi quay ra phía

trước), bước chân phải lên đâm 1 đường dao từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài vào bụng ta.

Ta phát hiện đường dao đang trên đà lao vào và đi được 2/3 quãng đường, ta chân phải

làm trụ, chân trái lùi rê sau khoảng 15-20cm đồng thời tay trái gạt chặt thấp khống chế đường dao(Hình 113a) tay phải nhanh chóng dùng 4 ngón con kết hợp ngón cái bóp huyệt khuỷu tay đối phương, 2 tay bẻ khoá và gìm đối phương xuống, chân phải co lên đánh gối vào mặt, bụng đối phương

làm đối phương mất sức kháng cự (Hình 113b)

Chân trái làm trụ, chân phải lùi về sau, bàn chân trái chèn sát cạnh ngoài bàn chân phải của đối phương, tay phải tước dao tì vào cổ đối phương kéo ngửa về sau.Ta ở tư thế giữ khoá (Hình 113c)

-Điểm trọng tâm: Gạt đỡ khống chế tay dao, khoá tay đánh gối

-Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, chính xác, có độ dừng



Hình 113b Hình 113c

Chương VI

Đánh bắt đối phương dùng gậy ngắn

I. ý nghĩa tác dụng:

Gậy ngắn, dao bảy (dao mác, dao bầu¼) là loại vũ khí thông dụng, dễ tìm, dễ mang, bằng t re, gỗ, hoặc sắt, vuông, tròn hay có hình lục giác¼ dùng phổ biến trong nhân dân, đặc điểm của gậy ngắn gọn, nhẹ. Trong khi sử dụng gậy để đánh thường phải lấy đà sức mạnh uy hiếp tập trung ở 1/3 phía đầu gậy.

Vì vậy mà bọn tội phạm cũng sử dụng để gây án, mọi lúc mọi nơi thậm chí chúng dùng để đánh trả cán bộ, chiến sĩ công an khi thi hành nhiệm vụ.

Đánh bắt gậy ngắn, dao bảy tuy không phức tạp, nhưng nếu ta không nắm vững đặc điểm của gậy, xử trí không linh hoạt nhanh nhạy thì có thể gây cho ta hậu quả nguy hiểm thậm chí dẫn đến tử vong. Do vậy mà ta phải nắm vững đặc điểm của gậy, ưu điểm và nhược điểm của gậy, để củng cố xây dựng tinh thần dũng cảm, bản lĩnh đánh bắt chính xác giành thắng lợi hoàn toàn.

Nguyên tắc đánh, khi đường gậy đang trên đà lao vào ta và đi được 2/3 quãng đường ta mới đánh, nếu không phải bật xa làm mất tác dụng đường gậy.

II. Nội dung động tác:

1-Đỡ gậy đánh bổ thượng:

Ta và địch ở tư thế đối kháng, đối phương tay phải cầm gậy và bước chan phải lên đánh đường gậy bổ thượng vào đầu ta.Phát hiện đường gậy đang trên đà lao vào và đi được 2/3 quãng đường, ta nhanh chóng luồn tránh từ phải sang trái đồng thời chân trái bật lướt lên và hơi chếch sang

trái 1 bước, chân phải co lên đá móc vào hạ bộ hoặc bụng đối phương.(Hình 114a)

Ta nhanh chóng đặt chân phải xuống khoảng giữa 2 chân đối phương, dùng cạnh bàn tay trái chặt mạnh vào gáy đối phương đồng thời dùng tay phải đấm móc vào bụng hoặc mặt đối phương(Hình 114b) chân phải co lên đá quét về trước vào chân trụ đối phương, buộc đối phương ngã sấp về trước ta nhanh chóng xoay người trở về vị trí ban đầu (thế chiến đấu, chân trước chân sau tư thế cao).

-Điểm trọng tâm: Luồn tránh đá mócvào hạ bộ hoặc bụng đối phương làm mất sức kháng cự .

-Điểm bảo hiểm: Đánh dứt kháot, có độ dừng, động tác chặt gáy ta chặt vào vai người phục vụ, người phục vụ ngã sấp không lộn.



Hình 114a Hình 114b

2-Đỡ gậy đánh sườn thuận:

Ta và đối phương ở tư thế đối kháng, đối phương tay phải cầm gậy bước chân phải lên

đánh 1 đường gậy vào sườn trái ta, phát hiện đường gậy đang trên đà lao vào và đi được 2/3 quãng đường, ta nhanh chóng bật lướt chan phải lên và chếch sang trái 1 bướcđồng thời tay phải gạt trượt quặt lấy tay cầm gậy của đối phương, chân trái lùi về tạo thành tư thế ngang, người ta xoay từ phải sang trái thành thế úp thì vào đối phương, cùng lúc dùng tay trái đánh khuỷu vào bụng hoặc chặt dọc

vào hạ bộ đối phương làm mất sức kháng cự . Ta ở tư thế khoá (Hình 115a-115b-115c)

-Điểm trọng tâm: Bật tránh và khống chế đường gậy đồng thời đánh khuỷu vào sau bụng và chặt vào hạ bộ đối phương.

-Điểm bảo hiểm: Ta đánh nhanh, chính xác có độ dừng động tác chặt vào hạ bộ ta chặt nhẹ và o đùi .


Hình 115a Hình 115b Hình 115c

3-Đỡ gậy đánh sườn:

Ta và địch ở tư thế đối kháng, đối phương tay phải cầm gậy, bước chân phải lên đánh 1

đường gậy từ trái sang phải vào sườn ta.

Phát hiện đường gậy đang trên đà lao vào và đi được 2/3 quãng đường, ta nhanh chóng bật lướt chân trái lên 1 bước, chân phải rê theo, đồng thời tay phải gạt hắn ra khốgn chế đường gậy, tay

trái đấm mạnh vào gáy đối phương(Hình 116a)

Cùng lúc tay trái nắm chặt lấy tóc đối phương gạt ngửa về sau. Chân trái làm trụ, chân phải ta đưa lên đá quét về sau quật ngã đối phương, tay trái ta trở về nắm chặt lấy cổ tay phải đối phương.Kết hợp tay phải bẻ khoá đối phương lên gối trái. Đồng thời gối phải ta đánh mạnh vào sườn



đối phương, tay phải ta tước gậy đối phương giơ ngang tai, ta ở tư thế giữ khoá.(Hình 116b và 116c)

-Điểm trọng tâm: Bật tránh khống chế gậy đồng thời đấm gáy đối phương làm mất sức

kháng cự

-Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, chính xác có độ dừng, khi đấm gay ta đầm vào vai. Người phục vụ chủ động ngã nghiêng bên trái.


Hình 116a Hình 116b Hình 116c

4-Đỡ gậy đánh khớp cổ chân:

Ta và đối phương ở tư thế đối kháng, đối phương tay phải cầm gậybước chân phải đánh 1 đường gậy vào ống chân ta. Phát hiện đường gậy đang trên đường lao vào và đi được 2/3 quãng đường. Ta nhanh chóng chân phải làm đà co rút chân trái lên, chếch sang trái đồng thời co chân phải lên đá thẳng vào mặt đối phương (Hình 117a)ta nhanh chóng đặt chân phải xuống phía trước mặt đối phương dùng cạnh bàn tay trái chặt mạnh vào gáy đối phương kết hợp tay phải đấm móc vào bụng hạơc mặt đối phương, chân phải co lên đá quét về trước quật đối phương ngã sấp, ta trở về vị trí chiến đấu(Hình 117b).

-Điểm trọng tâm: Bật tránh gậy, đá vào mặt đối phương

-Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, chính xác có độ dừng động tác đá vào mặt ta đá vào vai.


Hình 117a Hình 117b



Chương VII





Đ á n h b ắ t đ ố i p h ư ơ n g d ù n g sú n g n g ắ n

I. ý nghĩa tác dụng:

Súng ngắn là loại vũ khí hết sức nguy hiểm và lợi hại dễ mang, dễ cất dấu, khả năng sát thương từ xa, đặc biệt khi đánh gần, vật lộn vẫn có khả năng sát thương. Do vậy mà ta phải nắm chắc được đặc điểm của loại vũ khí này để trong chiến đấu, gặp trường hợp đối phương dùng súng ngắn không chế ta. Ta kịp thời đánh bắt, trước hết phải bình tĩnh linh hoạt lựa thời cơ cho phép mới được đánh. Đã đánh là đánh dứt khoát trước vũ khí của đối phương ngay không được chần chừ do dự. Mà không đánh thì phải bình tĩnh tạo thời cơ cho phép mới được đánh.

II. Nôị dung động tác:

1-Đánh xốc súng qụât ngã:

Ta đang đứng hoặc đi, đối phương di chuyển ngược chiều bất ngờ tay phải đối phương cầm

súng đưa lên hướng vào ta, bắt ta dơ tay lên,ta bình tĩnh thực hiện sự điều khiển của đối phương.

Lợi dụng sự sơ hở ta nhanh chóng bật lướt chân trái lên trên và chếch sang trái 1 bước, đòng thời xoay ẵ thân người từ trái sang phải, chân phải rê theo, cùng lúc tay phải ta chộp lấy tay cầm súng của đối phương, tay trái chặt vào khớp khuỷu, kết hợp 2 tay đánh xốc súng đập thẳng vào mặt đối phương và đẩy đối phương ngã mất đà(Hình 118a).

Chân trái làm trụ, chân phải đưa lên đá quét vào sau chân trụ của đối phương quật đối

phương ngã xuống, 2 tay ta đập mạnh tay súng đối phương xuóng đất, gối phải ta đánh vào sườn, gối trái đánh vào cổ đối phương kết hợp 2 tay tước súng bật lùi về sau khống chế đối phương(Hính 118b).

-Điểm trọng tâm: Lợi dụng thời cơ bất tránh viên đạn ban đầu, đánh xốc súng đập mạnh vào mặt đối phương.

-Điểm bào hiểm: Đánh nhanh, chính xác có độ dừng, khi đánh xốc súng ta đánh trượt qua vai, người phục vị chủ động ngã nghiêng bên trái.


Hình 118a Hình 118b

2-Đánh súng dí sát bụng:

Ta đang đứng hoặc đi, đối phương đi ngược chiều, bất ngờ đối phương tay phải cầm súng

dí sát vào bụng ta khống chế. TA làm theo mọi chỉ dẫn của đối phương, 2 chân ta hơi chùng, 2 tay từ từ dơ lên hàng, đến vừa tầm đánh(bàn tay ngang với tay cầm súng của đối phương) dùng bàn tay trái đánh tạt mạnh vào cổ tay đối phương. Kết hợp xoay 1/2 thân người từ trái sang phải tránh viên đạn ban đầu(Hình 119a). Kết hợp 2 tay tước vũ khí bật lùi về sau khống chế đối phương.

Đồng thời dùng bàn tay phải đưa lên bóp huệyt mu bàn tay cầm súng của đối phương kết



hợp hai tay đẩy đối phương mất đà, chân trái ta làm trụ, chân phải đưa lên đá quét về sau quật đối

phương ngã xuống, gối trái ta đánh mạnh vào cổ đối phương, gối phải đánh vào sườn, kết hợp hai tay đập mạnh tay cầm súng đối phương xuống (Hình 119b). Kết hợp hai tay tước vũ khí bật lùi về sau khống chế đối phương.

-Điểm trọng tâm:Xoay người bật tránh viên đạn ban đầu, bẻ tay súng quật ngã đối phương ngay.

- Điểm bảo hiểm:Đánh nhanh, chính xác có độ dừng


Hìnha 119a Hình 119b

3-Đánh súng dí sát lưng:

Ta đang đứng hoặc đi đối phương đi cùng chiều bất ngờ đối phương tay phải cầm súng đưa lên dí sát mũi súng vào lưng ta khống chế.Ta bình tĩnh thực hiện theo sự chỉ đạo của đối phương 2 chân từ

từ chùng xuống kết 2 tay đưa lên hàng (Hình 120a)

Lợi dụng sơ hở của đối phương chân trái ta bước vòng từ trái sang phải, từ trước về sau khoảng

180o đồng thời dùng cạnh bàn tay phải chặt mạnh vào cổ tay cầm súng của đối phương buộc đối

phương gãy khớp và rơi súng (Hình 120b)

Cùng lúc dùng cạnh bàn tay trắi chặt mạnh vào gáy đối phương(Hình 120c), tay phải ta đấm móc vào bụng, hoặc mặt đối phương, chân phải đưa lên đá quét đối phương ngã sấp, ta bật ra và tước vũ khí đối phương.

-Điểm trọng tâm: Xoay người bật tránh viên đạn ban đầu và chặt vào tay cầm súng của đối phương.

-Điểm bảo hiểm: Ta đánh nhanh, chính xác có độ dừng, chặt gáy ta chặt vào vai, người phục vụ ngã sấp không lộn.


Hình 120a Hình 120b Hình 120c

4-Đánh súng phía sau cự ly 1m - 1,5m:

Ta đang đứng hoặc đi, đối phương đi cùng chiều từ phía sau lưng ta bất ngờ đối phương tay phải

cầm súng đưa lên khống chế ta, ta bình tĩnh thực hiện theo sự điều khiển của đối phương, 2 chân ta hơi

chùng, kết hợp 2 tay từ từ đưa lên cổ quay sang phải liếc nhìn tay súng(Hình 121a)

Lợi dụng sơ hở của đối phương chân phải làm trụ, chân trái bước tới vòng từ trái qua phải từ

trước về sau khoảng 180o . Đồng thời dùng cạnh bàn tay phải chặt vào khớp cổ tay cầm súng của đối

phương và nắm chặt lại.Kết hợp tay trái nắm trong tay cầm súng bẻ gập vào trong(Hình 121b)

Chân phải ta bước lên trước 1 bước ngắn, chân trái co lên đạp mạnh vào sườn đối phương (Hình 121c) làm đối phương ngã xuống, đồng thời kết hợp 2 tay tước súng, bật lùi về sau khống chế đối phương.

-Điểm trọng tâm: Bật tránh hướng súng, khống chế tay súng đạp sườn.

-Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, chính xác có độ dừng, người phụ vụ chủ động ngã ngửa không lộn.


Hình 121a Hình 121b Hình 121c

5-Đánh súng dí sát thái dương:

Đối phương cầm saúng dí sát vào 1 bên thái dương ta, lập tức dùng tay trái hất nhanh tay súng ra

ngoài, đồng thời xoay người chém cạnh bàn tay phải vào cổ hắn(Hình 122 a,b,c)

-Điểm trọng tâm: Bật tránh hướng súng, khống chế tay, chặt cổ tay mạnh

-Điểm bảo hiểm: Đánh nhanh, chính xác có độ dừng, người phụ vụ chủ động ngã ngửa không lộn.


Hình 122 (a, b, c)

Xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Thế Hoàng-võ sư Karatedo CAHN. 

Đăng nhận xét

0 Nhận xét