BẾ CỐC

BẾ CỐC

Bế cốc vốn có từ thời Tiên Tần và được các nhà dưỡng sinh Đạo giáo tiếp thu, phát triển
Bế cốc chỉ là không ăn thịt cá, thức ăn tanh chứ tuyệt không phải nhịn đói. Bế cốc giúp cơ thể loại trừ những thứ độc hại trong cơ thể, vì thế có tác dụng thanh lọc và điều tiết cơ thể.

1./ Khái niệm Bế cốc
Các sách dưỡng sinh truyền thống đều đề cập đến “Thuật Bế cốc”. Bế cốc còn được gọi là “khước cốc:, “đoạn cốc”, “tuyệt cốc”… tức là không ăn ngũ cốc.
Thuật bế cốc có từ thời Tiên Tần, có lẽ là cùng thời đại với thuật hành khí, là một hình thức tu dưỡng của Trung Quốc cổ đại, sau được Đạo giáo tiếp nhận và phát triển thành một trong những phương pháp “tu tiên”. Bế cốc không chỉ là cách tu luyện của Đạo gia mà các học phái khác như Phật gia, Nho gia, Hồi giáo, dân gian lưu truyền … đều có, đồng thời lại chiếm vị thế rất quan trọng . trong đó lý luận về Bế cốc của Đạo gia là phong phú nhất.

2./ Phân loại Bế cốc
Bế cốc được phân làm hai loại là “phục khí bế cốc” và “phục dược bế cốc”.
a./ Phục khí bế cốc: là chỉ trước tiên nên chữa trị các bệnh tật của thân thể, làm cho khí huyết, trong tạng phủ lưu thông, có thể dùng phương pháp tả để chất độc, chất cặn bã theo đường tiểu tiện ra ngoài hết, sau đó giảm ăn lần lần đến không ăn gì cả. Không nghĩ, nhớ đến ngũ vị thì không thấy đói khát.
b./  Phục dược bế cốc: tức là dùng các vị thuốc để thay thế thức ăn bằng ngũ cốc. Có rất nhiều vị thuốc chứa chất dinh dưỡng có thể thay thế ngũ cốc như đậu, táo, hồ ma, phục linh, hoàng tinh, nhân sâm, mật ong… Các loại này phối hợp với nhau có thể thay thế thức ăn. Lại có loại thuốc hàm lượng dinh dưỡng cao, chậm tiêu hóa, ăn loại thuốc này vào rồi tiến hành bế cốc.
Về mức độ có thể phân bế cốc thành các loại sau:
a./ Toàn bế: trong thời gian bế cốc, cơm không ăn, nước không uống, hoàn toàn tuyệt thực, trực tiếp trao đổi năng lượng và thông tin với môi trường tự nhiên, điều động bản năng của thân thể để hoàn thành các quá trình trao đổi chất. Cách này rất ít người áp dụng.
b./ Cận tòan bế: không ăn ngũ cốc, dược vật nhưng uống một ít nước, một ít mật ong, một ít nước trái cây. Phương pháp này dùng được cho những người thể chất bình thường, tương đối an toàn.
c./ Bán bế: ngoài việc uống nước và mật ong, còn có thể ăn một ít trái cây đậu phộng, hồ đào, quả hạnh… Nhưng chỉ ăn ít để loại trừ cảm giác đói. Phương pháp này dùng cho người thể chất suy nhược.
d./ Cận bán bế: về cơ bản không ăn thức ăn tanh nồng như thịt cá, nhưng ăn rau quả, trái cây tùy ý hoặc cũng có thể ăn tinh bột nhưng trai tịnh. Phương pháp này dùng cho người có chút chướng ngại về tâm lý hoặc người có thể chất đặc biệt suy nhược.

3./ Những điều cần chú ý khi bế cốc
a./ Khống chế ẩm thực
Khi mới bắt đầu bế cốc có thể giảm ăn lẫn uống.
Trong ba ngày đầu giảm lượng thức ăn còn xuống một nửa hoặc gần đến trạng thái toàn bế. Nếu bạn cảm thấy mình đủ sức khỏe thì đi ngay vào trạng thái toàn bế cũng được.
Khi hết bế cốc, không nên ăn uống nhiều thưc ăn ngay mà phải ăn dần từng chút một như uống nước cháo trước, uống ít mật ong trước… để dạ dày quen với thức ăn, từ từ hồi phục công năng. Một tuần sau mới được ăn thịt cá. Khi bế cốc có thể dùng các cách như toàn bế, cận toàn bế, bán bế…
Theo kinh nghiệm thực tế thì trong thời gian bế cốc, mỗi ngày nên uống chút mật ong là tốt nhất. Nếu có uống nước thì nên uống nước nóng, không cấm uống rượu nhưng chỉ uống rất ít, vì uống nhiều có hại hơn lúc bình thường rất nhiều.
b./ Khống chế thân thể và tinh thần
Khi bế cốc không nên vận động thân thể quá sức, tránh những đả kích, xúc động mạnh về tinh thần, tình cảm, nên giữ trạng thái cân bằng, điều hòa.
Hạn chế sinh hoạt tình dục để mượn tinh hóa khí.
c./ Khống chế thời gian
Thời gian bế cốc tùy theo hoàn cảnh cụ thể và thời gian cụ thể của mỗi người. ngắn thì bế cốc 1, 2 ngày, dài thì mười mấy ngày, thông thường là ba ngày. Người có thể chất bình thường có thể bế cốc bảy ngày hoặc hơn. Bế cốc lần thứ hai cũng không nên quá lâu, phải an toàn là trên hết, không nên kéo dài thời gian đến kiệt sức. Phải tùy theo cảm giác của mình.

4./ Nghiên cứu nguyên lý bế cốc
Trong lý luận dưỡng sinh truyền thống, ẩm thực được gọi là “cốc khí”. Cốc khí kết hợp nguyên khí trong cơ thể hình thành chân khí. Thức ăn có ích cho chân khí nhưng cũng lưu lại tính chất của chúng trong cơ thể. Những tính chất này có thể ảnh hưởng không tốt đến sự vận chuyển chân khí và sự vận hành của khí huyết, vì thế rất dễ gây bệnh cho con người.
Các thực nghiệm y học hiện đại chứng minh rằng, thức ăn cung cấp năng lượng cho cơ thể nhưng đồng thời cũng để lại trong cơ thể không ít tạp chất. Tuy hàng ngày cơ quan bài tiết của chúng ta làm việc rất tích cực nhưng vẫn còn những tạp chất trụ lại trong cơ thể và dễ dàng trở thành độc chất gây bệnh cho con người. Bế cốc chính là muốn tống khứ tất cả độc chất này ra khỏi cơ thể để cơ thể sạch, không chứa mầm bệnh, đồng thời cũng cải thiện công năng của hệ hô hấp và hệ tiêu hóa, kích thích năng lực tiềm ẩn của cơ thể, cải tạo toàn diện thân tâm.

5./ Ý nghĩa của bế cốc
Bế cốc vừa làm sạch thân, vừa nuôi dưỡng tâm, làm cho tâm sáng, tinh thần thư thái, kích thích tiềm năng của con người, Bế cốc không chỉ đơn thuần là nhịn đói, mà nó đặt đại não vào một trạng thái mới, buộc phải phát huy cao nhất thể năng và tiềm lực để điều tiết, chỉ huy cơ thể, nguyên khí, để vận dụng một cách cao nhất, bên ngoài thì tay chân linh hoạt, mắt sáng mũi thông…
Bế cốc giúp con người kéo dài tuổi thọ. Người xưa cho rằng muốn sống lâu thì bụng phải sạch, ruột không chứa chất dơ. Các nhà y học hiện đại qua nghiên cứu chứng minh rằng, muốn khỏe mạnh thì không được ăn uống quá mức để tránh béo phì. Họ cũng chứng minh trên động vật rằng, cấm thực giúp chúng ta phòng trị ung thư, kéo dài tuổi thọ.

6./ Phạm vi thích ứng
- Người suy dinh dưỡng, người có bệnh về hệ thống trao đổi chất ( như bệnh tiểu đường, béo phì, mỡ trong máu …) đều thích ứng với bế cốc.
- Người bệnh ở hệ thống tiêu hóa như viêm dạ dày, viêm đường ruột, gan nhiễm mỡ…
- Người bị bệnh thận như viêm thận mãn tính, sưng phù…
- Người bị bệnh ở hệ thống tuần hoàn.
- Khả năng miễn dịch suy yếu.
Tuy nhiên không phải bệnh nào bế cốc cũng có thể trị được, ví dụ như bệnh thần kinh, bệnh câm điếc bẩm sinh….                    .

Bình luận

Mới hơn Cũ hơn